Tư liệu

HỘI THẢO NÂNG CAO CHÂT LƯỢNG GIẢNG DẠY

12/24/2014 2:24:47 PM

BÁO CÁO ĐỀ DẪN

“NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ”

       TS. Trần Đức Hiền

Nâng cao chất lượng giảngdạy các môn lý luận chính trị nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao để đáp ứng nhu cầu phát triển là nhiệm vụ quan trọng. Xác định vị trí, vaitrò đó trong những năm qua Đảng ủy và Ban Giám hiệu Trường ĐH Quảng Bình luônquan tâm chỉ đạo chuyên môn, quản lý chương trình, tài liệu và tạo điều kiệncho giảng viên lý luận chính trị học tập nâng cao trình độ, giảng dạy, nghiêncứu khoa học, và tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo để định hướng cho phát triểntoàn diện của Nhà trường.

Từ năm học 2009 - 2010,Khoa Lý luận Chính trị đã triển khai thực hiện giảng dạy các môn lý luận chínhtrị theo chương trình mới gồm 3 môn học: Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sảnViệt Nam theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDDT về ban hành chương trình các mônlý luận chính trị trình độ đại học, cao đẳng cho sinh viên khối không chuyênngành Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sau hơn 3 năm thực hiệnchương trình Lý luận chính trị mới, công tác giảng dạy môn lý luận chính trị đãcó những chuyển biến tích cực. Việc lựa chọn và sắp xếp những nội dung cơ bảncủa các môn học đã giúp cho người học có được những kiến thức cơ bản, logic vàcó hệ thống.  Tuy nhiên, khi thực hiệnchương trình các môn lý luận chính trị cũng có một số vấn đề đòi hỏi phảinghiên cứu, giải quyết nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Nội dung môn Những nguyênlý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin bao gồm những nội dung cơ bản của 3 môn họctrước đây là Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩaxã hội khoa học. Việc tích hợp ba môn học này làm cho việc dạy và học có nhữngkhó khăn nhất định. Nhiều giảng viên dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin phải đảm nhận cả những phần mình không được đào tạo chuyên sâunên chất lượng giảng dạy bị ảnh hưởng.

Nội dung giáo trình cácmôn Lý luận chính trị trình độ đại học, cao đẳng cho sinh viên còn nặng về lýthuyết. Nhiều sinh viên còn có quan niệm các môn Lý luận chính trị là môn họckhô khan, chỉ mang tính lý luận không phục vụ cho chuyên ngành đào tạo, do đósinh viên đầu tư thời gian, công sức chưa nhiều, tìm hiểu tài liệu tham khảo đểmở rộng hiểu biết còn hạn chế.

Trong quá trình giảng dạygiảng viên đã có ý thức đổi mới phương pháp, đổi mới phương thức tổ chức để đápứng yêu cầu, phát huy tính tích cực của sinh viên. Vận dụng lý thuyết để liênhệ thực tiễn ở địa phương đã làm cho bài giảng sinh động. Tổ chức giảng dạyđúng quy định 70% lý thuyết, 30% Seminar. Tổ chức thảo luận với nhiều hình thứckhác nhau có chất lượng, làm cho sinh viên chủ động, tích cực.

Tuy nhiên, việc giảng dạycác môn lý luận chính trị, phương pháp chủ yếu hiện nay vẫn còn nặng theo lốithuyết trình. Một số giảng viên đã sử dụng các phương tiện dạy học hiện đạinhưng mới dừng lại ở chỗ bớt được thao tác viết bảng cho giảng viên, chưa khaithác nhiều kênh thông tin.

Với những lý do trên, hômnay Khoa Lý luận Chính trị tổ chức Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị”. Hội thảocó mục đích đánh giá tình hình giảng dạy và từ đó đềxuất các biện pháp thiết thực, có hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượnggiảng dạy các môn lý luận chính trị trong Nhà trường.

Nội dung của Hội thảo lầnnày tập trung vào các vấn đề sau:

-    Nội dung, chương trình các môn lý luậnchính trị.

-Thực trạng giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị(mặt đạt được, mặt hạn chế, tính đặc thù, kinh nghiệm giảng dạy)

-Vận dụng và đổi mới phương pháp giảng dạy tíchcực.

-Đổi mới phương pháp quản lý, tổ chức lớp học.

-Trách nhiệm, chủ động, tích cực trong việc phụcvụ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tham gia nghiên cứu khoa học.

-Giải pháp, biện pháp, kiến nghị thiết thực, cóhiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị.

-Nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn của các Tổ Bộ môn.

Với sự tâm huyết nghềnghiệp và quan tâm của quý vị đại biểu, các thầy giáo, cô giáo, tin tưởng rằngchúng ta sẽ có buổi thảo luận khoa học để chia sẻ kinh nghiệm, đóng góp ý kiếnquý báu nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Trân trọng cảm ơn sự cómặt của toàn thế quý vị. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.

 

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN

CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

Ths. Nguyễn Thị Thanh Bình

Tổ Lý luận Mác-Lênin

Tóm tắt

 Theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 củaBộ giáo dục và Đào tạo từ năm học 2009 - 2010 các môn khoa học:Triết họcMác-Lênin, Kinh tế chính trị học Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học được hợpthành môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng thống nhất chotất cả các trường đại học cao đẳng trong toàn quốc. Xuất phát từ nội dung cũngnhư yêu cầu thực tiễn, buộc phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tíchcực, chủ động, sáng tạo của sinh viên.

Mở đầu

            Vấnđề phát huy tính tích cực học tập của người học đã được đặt ra trong ngành Giáodục từ những năm 1960. Thế nhưng, cho đến nay sự chuyển biến về phương pháp dạyhọc ở các trường đại học nói chung, Trường đại học Quảng Bình nói riêng chưađược phổ biến, phần lớn vẫn thực hiện cách dạy theo kiểu thông báo các kiếnthức định sẵn, sinh viên học thụ động, sách vở. Tuy rằng, Trường Đại học QuảngBình đã triển khai các hội nghị về đổi mới phương pháp dạy học tích cực, đãxuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy giỏi của giảng viên theo hướng tổ chức chosinh viên hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, song nhìn chung tình trạngdiễn ra hàng ngày vẫn là “Thầy đọc- trò chép” hoặc giảng giải xen kẽ vấn đáptái hiện, giải thích minh hoạ bằng tranh ảnh, hoặc sử dụng máy vi tính dướidạng thay cho thầy viết bảng. Nếu cứ tiếp tục cách dạy và học thụ động như thế,khó có thể giúp cho sinh viên “biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo”. Trongbài viết tác giả đề cập đến thực trạng dạy và học môn Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin ở Trường Đại học Quảng Bình, tiền đề cơ bản cho việcđổi mới phương pháp dạy học môn NNLCBCCNM-LN, đề xuất một số nội dung đổi mớimới dạy học NNLCBCCNM-LN theo phương pháp tích cực và một số yêu cầu khi thựchiện phương pháp tích cực trong dạy học.

Nội dung

1. Thực trạng tính tíchcực dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin ở Trường Đại họcQuảng Bình

            1.1. Thực trạng tínhtích cực giảng dạy của giảng viên  giảngdạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin ở Trường Đại học QuảngBình

            Đểtìm hiểu thực trạng giảng dạy của giảng viên môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin ở Trường đại học Quảng Bình, chúng tôi tìm hiểu trên ba khíacạnh: nhận thức, thái độ và hành vi trong quá trình dạy học.

            Độingũ giảng viên khoa Lý luận chính trị có 17 giảng viên, trong đó có 2 tiến sĩ(1 chính trị học, 1 pháp luật), 2 nghiên cứu sinh nước ngoài, 12 thạc sĩ (3kinh tế chính trị, 4 triết học, 1 Lịch sử Đảng, 1 tư tưởng Hồ Chí Minh 2 ViệtNam học, 1 pháp luật)  1 cao học. Trongđó, có 15 giảng viên dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Về nhận thức, đa số thầycô đều có động cơ, mục đích dạy học tích cực, trong sáng, phù hợp với đặc thùnghề sư phạm. Họ đều xác định đây là một nghề lao động trí óc chuyên biệt, phảiđầu tư nhiều công sức, trước, trong và cả sau khi lên lớp. Nhận thức rõ bảnchất, ý nghĩa của tính tích cực trong quá trình dạy học: tăng cường đổi mới vềnội dung, mục tiêu, phương pháp dạy học; không ngừng trau dồi kiến thức, trìnhđộ chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ sư phạm, cập nhật thông tin thường xuyên,nhiệt tình, sáng tạo trong đổi mới phương pháp nhằm gợi mở cho sinh viên họctập và phát huy tư duy sáng tạo; là sự sáng tạo trong bài giảng, trong nghiêncứu khoa học; luôn cập nhật kiến thức mới, tâm huyết với giờ dạy. Có tráchnhiệm với công việc, quan tâm đến sinh viên.

            Song,khi tìm hiểu về tự đánh giá của giảng viên về thực trạng tích cực trong giảngdạy thì mức độ giảng viên khẳng định là “có” rất khiêm tốn. Còn gần một nữa trảlời “Khó trả lời” hoặc “chưa có”, thậm chí có người không trả lời câu hỏi này.Mặc dù đây chỉ là sự tự đánh giá, mang tính phỏng đoán, chủ quan và quan sát làchính, nhưng cũng cho thấy một thực trạng là còn khá nhiều giảng viên chưa cótính tích cực giảng dạy. Để tìm hiểu sâu hơn, chúng tôi yêu cầu giảng viên chobiết lý do “Vì sao?” phần lớn giảng viên không trả lời, một số trả lời “có” chorằng: “Qua chất lượng dạy và học của môn học”, ở giảng viên trả lời “chưa có”thì cho rằng do: “Chưa được qua đào tạo tất cả các môn học Triết học Mác-Lênin,kinh tế chính trị Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học” hoặc “do lớp ghép quáđông”, còn những giảng viên cho là “khó trả lời” thì lại nêu ra lý do: “khôngquan sát được” hoặc “Chưa có tiêu chí để đánh giá thế nào là tích cực và thếnào là không tích cực?”

            Vềthái độ, phần lớn thầy cô có thái độ tích cực ở mức độ cao trong hoạt độnggiảng dạy, tuy nhiên, mức độ tích cực không đồng đều, các biểu hiện luôn cốgắng hoàn thành mọi nhiệm vụ giảng dạy được giao, luôn có ý thức độc lập, tựchủ trong giảng dạy và đạt kết quả tốt, nghiêm túc trong giảng dạy, mong muốncó sự phản hồi từ phía sinh viên để điều chỉnh hoạt động giảng dạy của mình,luôn nhiệt tình cởi mở trong quan hệ với đồng nghiệp và sinh viên, sẵn sàng đổimới và ủng hộ việc đổi mới của đồng nghiệp biểu hiện ở mức độ cao. Còn các biểuhiện: Có ý thức sáng tạo trong quá trình dạy học, sẵn sàng thử nghiệm những ýtưởng mới trong dạy học ở mức độ trung bình.

            Vềhành động giảng dạy, tính tích cực được thể hiện từ khâu chuẩn bị bài lên lớp:xác định mục tiêu, nội dung, lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp.Song, trong quá trình triển khai, việc xác định 3 mục tiêu thì mục tiêu “kiếnthức” được xếp ở mức độ cao nhất, tiếp đến mục tiêu “kỹ năng”, thấp nhất là mụctiêu “thái độ” (giáo dục nhân cách cho sinh viên), điều này được chứng minh khichúng tôi phỏng vấn sâu giảng viên: Nêu khái quát mục tiêu môn học, chương màthầy cô đang giảng dạy, thì hầu hết giảng viên chỉ nêu mục tiêu kiến thức và kỹnăng, còn thái độ hầu như không đề cập đến, qua dự giờ và tìm hiểu bài giảngcủa một số giảng viên cũng cho thấy kết quả tương tự. Xin thầy (cô) hãy chobiết những khó khăn và trở ngại khi xác định mục tiêu bài học và cách khắc phụccủa bản thân. Có nhiều lý do, song đa số cho rằng trình độ của sinh viên phânhoá đa dạng, tài liệu chưa thống nhất, mục tiêu quá lớn khó thực hiện đượcngay; nội dung chương trình, giáo trình quá dài. Cách khắc phục: chia mục tiêulớn thành mục tiêu nhỏ để dễ thực hiện, đọc và phân tích kỹ các nội dung để xácđịnh mục tiêu cho phù hợp. Qua đó cho thấy tính tích cực của giảng viên trongviệc xác định mục tiêu không nhiều.

Xác định nội dung củachương, lượng kiến thức của từng phần (Thế giới quan và phương pháp luận triếthọc của chủ nghĩa Mác-Lênin; Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác-Lênin vềphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lêin về chủnghĩa xã hội) ở mức vừa phải trên cả bốn tiêu chí: xác định khối lượng kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo mà sinh viên cần lính hội; lựa chọn những kiến thức cơbản, cần thiết của bài giảng; xác định nội dung kiến thức mới, hiện đại, cậpnhật mở rộng kiến thức; xác định nội dung kiến thức thực tiễn, kỹ năng thựchành chung cho cả lớp; xác định thời lượng cho từng đơn vị kiến thức thích hợp.Giảng viên giải thích điều này thông qua câu hỏi mở: Xin thầy (cô) cho biếtnhững khó khăn trong việc xác định nội dung giảng dạy Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin: Đa số giảng viên cho rằng, bản thân chỉ được đào tạomột chuyên ngành hẹp (triết, kinh tế chính trị), trong khi đó phải thực hiệngiảng dạy với phạm vi quá rộng (cả ba phân môn Triết học Mác-Lênin (phần 1),kinh tế chính trị học Mác-Lênin  và chủnghĩa xã hội khoa học (phần 2), có giảng viên cho rằng, bản thân chỉ dạy tốtphần đã được đào tạo, còn phần còn lại phải “vừa học vừa dạy” do đó khó xácđịnh đúng nội dung phải biết, có thể biết... nên cũng không có đủ thời gian đểmở rộng, cập nhật thông tin; mặt khác lượng kiến thức còn nặng nề, dàn trãi,hầu như giữ nguyên, trong khi đó số lượng thời gian cắt hơn một nữa (phần triếthọc và chủ nghĩa xã hội khoa học). Thiết bị phục vụ cho dạy học còn khiêm tốn,lớp học sinh viên quá đông trên 100 sinh viên, ghép từ 5 lớp khác nhau (Đại họcLâm nghiệp; Đại học Quản lý tài nguyên và môi trường; Đại học Giáo dục chínhtrị; Đại học Công nghệ kỹ thuật điện, Điện tử; Đại học Công nghệ thông tinK55).

Việc lựa chọn phương phápdạy học của giảng viên cũng đạt ở mức trung bình, trong đó phương pháp truyềnthống được giảng viên lựa chọn cao hơn phương pháp dạy học phát huy tính tíchcực của sinh viên. Trong số hệ thống phương pháp truyền thống, phương phápthuyết trình và phương pháp sử dụng giáo trình và tài liệu được giảng viên lựachọn nhiều nhất. Còn trong nhóm phương pháp dạy học phát huy tính tích cực củasinh viên thì phương pháp dạy học nêu vấn đề chiếm ưu thế hơn cả. Các phươngpháp dạy học tích cực khác mức độ lựa chọn thấp như: phương pháp động não, tổchức trò chơi hay dạy học theo dự án. Vì sao hiện nay giảng viên dạy Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin ở trường Đại học Quảng Bình vẫn chútrọng nhiều đến phương pháp dạy học truyền thống và chưa thực sự chú trọng đếnviệc lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực? Đây là vấn đề rất đáng quan tâmhiện nay, vì muốn sử dụng phương pháp dạy học tích cực giảng viên không nhữngphải có trình độ, phải nắm vững phương pháp dạy học mà còn phải rất tích cựcnữa.Vậy tại sao giảng viên không lựa chọn mức độ cao cho phương pháp dạy họctích cực? theo tôi có nhiều nguyên nhân do cả phía giảng viên, sinh viên vàtính chất môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Về phương tiện dạy học,việc chuẩn bị phương tiện dạy học ở mức trung bình, thậm chí ở rất thấp. Trongđó giảng viên đã ưu tiên lựa chọn phương tiện dạy học hiện đại nhiều hơn phươngtiện dạy học truyền thống, nhưng mức độ không cao. Có thể nói việc chuẩn bịphương tiện dạy học cũng là một việc khó, vì nó phụ thuộc vào mục tiêu, nộidung của môn học và phương pháp dạy học. Nó đòi hỏi phải có sự tích cực nỗ lựccủa giảng viên.

Trong quá trình sử dụngcác hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá, giảng viên thường sử dụngphương pháp kiểm tra vấn đáp và phương pháp tự luận nhiều nhất. Còn các phươngpháp trắc nghiệm và thực hành tuy là phương pháp tích cực, mang tính khách quanvà hiệu quả cao nhưng mức độ sử dụng thường xuyên thấp. Có lẽ do bộ trắc nghiệmphải đầu tư nhiều thời gian, cũng như bài tập thực hành không phải khi nào cũngxây dựng được, nên giảng viên ít sử dụng. Các hình thức kiểm tra giữa môn vàhết môn được sử dụng nhiều nhất, vì đó là quy chế chung. Các hình thức hướngdẫn sinh viên làm bài tập lớn không được sử dụng, mặc dù hình thức này giúpsinh viên có kỹ năng tự học, tự nghiên cứu khoa học. Còn việc kiểm tra kiếnthức sau mỗi buổi học, hoặc trước khi học bài mới có ý nghĩa to lớn cho giảngviên và sinh viên nhằm điều chỉnh  hoạtđộng dạy và học thì giảng viên ít khi sử dụng.

            1.2. Thực trạng tínhtích cực của sinh viên trong học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin ở trường Đại học Quảng Bình

            Tínhtích cực trong học tập thực chất là: “Tính tích cực của nhận thức, thể hiện ởđặc trưng ở khát vọng về sự hiểu biết, sự cố gắng về trí tuệ và nghị lực caotrong quá trình chiếm lĩnh tri thức”[1, 88]. Tính tích cực của học tập đượcbiểu hiện thông qua các dấu hiệu sau: Chuẩn bị đầy đủ các bài tập, câu hỏi màgiảng viên hướng dẫn, đến lớp hăng hái trả lời các câu hỏi của giảng viên đặtra, bổ sung các câu trả lời của bạn, chủ động phát biểu ý kiến, quan điểm củamình trước những vấn đề giảng viên nêu ra, nêu thắc mắc, yêu cầu giải thích cặnkẽ những vấn đề chưa rõ, chủ động vận dụng kiến thức đã học để nhận thức vấn đềmới, trong quá trình học tập chú trọng vào các vấn đề đang học, kiên trì hoànthành các loại bài tập, không chùn bước trước những tình huống khó khăn.

            Đểtiến hành đánh giá hoạt động học tập của sinh viên có tích cực không? Có nhiềucăn cứ để đánh giá, song có thể dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau: tính lựa chọn,thái độ của đối tượng, khả năng tự đề ra mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết saukhi đã lựa chọn được đối tượng, cải tạo đối tượng trong quá trình hoạt độngnhằm giải quyết vấn đề. Qua thực tế giảng dạy cũng như dự giờ thăm lớp của đồngnghiệp, chúng tôi chia hoạt động học tập của sinh viên thành ba dạng để nghiêncứu: Hoạt động học tập ở trên lớp; hoạt động học tập ngoại khoá, hoạt động họcngoài lớp không bắt buộc (tự giác). Bài viết này tác giả chỉ tập trung giảiquyết hoạt động học tập ở trên lớp của sinh viên, đây là loại hoạt động học tậpđược quy định bởi kế hoạch và chương trình học tập của môn Những nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác-Lênin và đã được giảng viên giảng dạy cụ thể hoá theotừng đơn vị học trình và đã được phòng đào tạo quy định bằng thời khoá biểu vànhững giảng đường tương ứng. Trong tất cả mọi trường hợp hoạt động học tập trênlớp đều được tiến hành dưới sự hướng dẫn của giảng viên.

            Nhìnchung, ý thức tự giác, tích cực, chủ động trong quá trình nhận thức của sinhviên chưa cao, còn ỷ lại, ngồi chờ, dựa dẫm vào bạn bè, thầy cô, tài liệu. Biểuhiện cụ thể: đến lớp giáo trình không có, bài tập về nhà chưa chuẩn bị, nếu cóchẳng qua để đối phó, làm chiếu lệ. Trong quá trình học trên lớp, việc tham giaxây dựng bài quá ít, trao đổi, hợp tác giữa các thành viên trong nhóm chưa cao,chủ động đặt ra các câu hỏi và yêu cầu giải quyết còn hạn chế, hy hữu chỉ xảyra trong phần giới hạn ôn tập, theo dạng, thưa cô: Sao giới hạn nhiều thế, bớtđi cho chúng em vài phần được không? Đề dưới dạng gì? Trắc nghiệm hay tự luận?

 Kết quả xếp loại học tập môn Nguyên Lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin 1, khóa 55 như sau:

 

Xếp loại

 

Thang điểm 10

Thang điểm chữ

Hệ ĐH K55/440 sv

Hệ CĐ K55/110sv

 

S L

%

SL

%

Đạt

Giỏi

8,5-10

A

0

0

2

1,82

 

Khá

7.0-8.4

B

35

7,96

2

1,82

 

TB                  

5,5- 6,9

C

116

26,37

26

23,63

 

TB yếu

4,0- 5,4

D

202

45,9

61

55,45

Không đạt

Kém

< 4,0

F

87

19,77

19

17,27

            Trong đó, điểm khá, giỏi rất thấp: ĐH (7,96%), CĐ(3,64%); Trung bình: ĐH (26,37%), CĐ (23,63%); Trung bình yếu: ĐH (45,9%), CĐ(55,45%); Kém: ĐH (19,77%), CĐ (17,27%).

Có cả nguyênnhân khách quan và chủ quan dẫn đến kết quả học tập của bộ môn còn trung bìnhyếu và chưa đạt chiếm tỷ lệ khá cao, hệ đại học (65,67%), cao đẳng (72,72%).Trước hết, do chưa xác định đúng mục đích, động cơ học tập bộ môn nên dẫn đếnthái độ thờ ơ, chủ quan, bất cần; chưa lập được kế hoạch học tập, nghiên cứu bộmôn; cách học còn thụ động, ỷ lại bạn bè, giảng viên và giáo trình; mặt khácmôn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin có tính trừu tượng cao, bàitập thực hành nhiều; tiếp thu lý luận thụ động, một chiều, chưa phát huy đượckhả năng suy nghĩ độc lập, khoa học và sáng tạo của sinh viên; các hình thức tổchức hướng dẫn cho sinh viên học tập vẫn còn khô cứng. Đó là những nguyên nhândẫn đến hiện tượng sinh viên không học hoặc không có hứng thú học tập, nghiêncứu bộ môn. Tính chất học tập còn mang tính đối phó, thiếu tính tự giác, hoặcviệc lên lớp nghe giảng của sinh viên là do yêu cầu của quy chế bắt buộc chứchưa trở thành nhu cầu học tập nghiên cứu của bản thân.

2. Một số giải pháp đổi mới dạy học Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác-Lênin ở Trường Đại học Quảng Bình theo phương pháp tích cực

2.1. Kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp dạy học truyền thốngvới phương pháp dạy học hiện đại, vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy họctích cực

Phương phápdạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống những biệnpháp, thủ thuật dạy và học có hiệu quả. Đổi mới phương pháp dạy học không cónghĩa là loại bỏ những phương pháp hiện có, thay vào đó những phương pháp dạyhọc mới mà phải kế thừa, phát triển những mặt tích cực của phương pháp truyềnthống đồng thời, đòi hỏi vận dụng một số phương pháp dạy học mới phù hợp vớiđiều kiện hoàn cảnh, đặc điểm dạy học bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin ở Trường đại học Quảng Bình. Vấn đề căn bản là tìm ra cách vậndụng linh hoạt các phương pháp dạy học như thế nào để phát huy mặt tích cực củatừng phương pháp nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viêtrong học tập, trên cơ sở đó giúp sinh viên biết cách tự học, biết cách hợp táctrong học tập, tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc phát hiện và giải quyếtvấn đề để tiếp thu và nâng cao những kiến thức căn bản cần thiết, rèn luyện kỹnăng thực hành.

Việc đổi mớiphương pháp dạy học bộ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin ởtrường Đại học Quảng Bình theo hướng tích cực có thể sử dụng nhiều phương phápkhác nhau trong 1 tiết giảng, song cũng nên xác định phương pháp nào là cơ bảnnhất cho việc chuyển tải kiến thức. Mặt khác, phải chú trọng đến việc hướng dẫnsinh viên lập kế hoạch học tập theo mục đích yêu cầu, nội dung chương trình dạyhọc, cũng như cách sử dụng giáo trình, tài liệu hiệu quả nhất, hướng dẫn cáchtự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của bản thân cũng như người khác.

2.2. Tổ chức dạy họctheo phương pháp dạy học tích cực

Tạo cho sinhviên một vị thế mới và cả những tiền đề, điều kiện thuận lợi để hoạt động: Sinhviên phải trở thành chủ thể tích cực, tự giác trong việc tìm hiểu, nắm vững nộidung, chương trình, mục tiêu bộ môn cũng như đặc trưng cơ bản của việc nghiêncứu học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trên cơ sở đóxác định mục tiêu học tập, nội dung cơ bản cần học, thiết kế được kế hoạch họctập phù hợp với năng lực, điều kiện của bản thân nhằm tạo thế chủ động, tự tin,sáng tạo trong quá trình học tập, biết lượng giá kết quả học tập nhằm điều hoạtđộng của mình theo mục tiêu đã định.

Nắm vững lýthuyết của bộ môn là cần thiết, nhưng chưa đủ để trở thành chủ thể tích cực, tựgiác, sáng tạo trong học tập, chưa thể biến “quá trình đào tạo thành tự đàotạo”. Để đạt được mục tiêu đó, sinh viên phải thường xuyên thực hành, rèn luyệnkỹ năng, kỹ xảo trong quá trình học tập bộ môn thông qua nhiều hoạt động khácnhau: (Thuyết trình, tranh luận, xemina…) nhằm nâng cao khả năng diễn đạt, giaotiếp, khả năng tranh luận, tổ chức, tư vấn; Các dạng bài tập, hoạt động ngoạikhóa… nâng cao khả năng tính toán, ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn đặt ra.

 Ngoài sự nỗ lực của mỗi sinh viên, nó còn đòihỏi sự quan tâm giúp đỡ của các nhà quản lý, giảng viên bộ môn tạo mọi điềukiện giúp đỡ các em hoàn thành nhiệm vụ học tập nhằm hình thành động cơ, hứngthú, niềm lạc quan trong quá trình học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin.

Xác lập vàkhẳng định vai trò, chức năng của giảng viên trong quá trình dạy học Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin:

- Thiết kế,tức là lập kế hoạch cho quá trình dạy học cả về mục đích, nội dung, phươngpháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học.

- Uỷ thác,tức là thông qua đặt vấn đề về nhận thức, tạo động cơ hứng thú, giảng viên biếný đồ dạy học của mình thành nhiệm vụ học tập tự giác sáng tạo của sinh viên.

- Điều khiểnquá trình học tập của sinh viên trên cơ sở thực hiện một hệ thống mệnh lệnh,định hướng, trợ giúp, đánh giá.

-Thể chế hoá,tức là xác nhận, định vị kiến thức trong hệ thống tri thức đã có, đồng thờinhất thể hóa tri thức riêng lẽ của sinh viên thành tri thức khoa học xã hội,ghi nhớ và vận dụng.

            Điểmquan trọng nhất trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tích cực môn Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là giảng viên kết hợp nhuần nhuyễn cácphương pháp dạy học tích cực trong mỗi tiết dạy học đồng thời chú tâm đến việcthiết kế những hoạt động học tập của sinh viên trong quá trình dạy học bao gồmhoạt động tự nghiên cứu ở nhà, hoạt động ở lớp, kiểm tra , tự đánh giá của sinhviên.

Kết luận

Để triển khai thực hiệnphương pháp dạy học tích cực trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin ở trường Đại học Quảng Bình có hiệu quả, cần phải thực hiện một cáchđồng bộ các yêu cầu sau:

Đối với đội ngũ giảng viên, đây là vấn đề cơ bản nhất vì chuyển sang dạy học tíchcực là thay đổi cách giảng dạy quen thuộc, vốn chứa nhiều ưu điểm mà thầy cô đãtrau dồi thành thạo còn sinh viên cũng đã quen cách học thụ động. Hơn nữa,phương pháp dạy học tích cực còn bao hàm việc sử dụng nhiều phương pháp dạy họcmới, nhiều kỹ thuật, công nghệ hiện đại, như thiết kế giáo án điện tử, sử dụngthông tin mạng…đòi hỏi mỗi giảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ về mọimặt, chuyên môn nghiệp vụ, có kế hoạch tự đào tạo bằng cách tham gia dự giờđồng nghiệp về chuyên ngành chéo (chẳng hạn giảng viên có chuyên ngành triếthọc có kế hoạch đi dự giờ giảng viên đào tạo kinh tế chính trị học, chủ nghĩaxã hội khoa học và ngược lại), trao đổi học thuật trong sinh hoạt chuyên môn,tập huấn; nâng cao khả năng sử dụng phương tiện công nghệ hiện đại, thu thậpthông tin cập nhật để phục vụ cho bài giảng đồng thời tự trang bị cho mìnhnhững kiến thức mới về phương pháp dạy học theo hướng tích cực.

            Đểlàm được điều đó, bên cạnh chuyên ngành được đào tạo, giảng viên nên tự đào tạothêm chuyên ngành chéo để chủ động, tự tin, sáng tạo trong quá trình dạy họcmôn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin theo hướng tích cực. Mặtkhác, giảng viên phải có tâm huyết với nghề, với việc đổi mới phương pháp dạyhọc. Việc thiết kế bài giảng theo hướng tích cực là một quá trình đổi hỏi sựhao phí nhiều công sức, tâm huyết và trách nhiệm cao của người thầy. Vìthế,giảng viên cần chủ động nghiên cứu phương pháp dạy học hiện đại, kỹ năngthiết kế bài giảng Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin theo hướngtích cực.

Trong quá trình dạy học,mỗi giảng viên phải quán triệt các quan điểm đổi mới dạy học là nhiệm vụ cơbản, đổi mới phương pháp dạy học là việc làm khoa học, là quy luật khách quan.Do đó, phải tích cực đổi mới trong quá trình dạy học, phải dự giờ đồng nghiệp,trao đổi rút kinh nghiệm.

Đối với sinh viên, theo quan điểm dạy học hiện đại, quá trình dạy học là sựtương tác giữa hai chủ thể: Chủ thể dạy (giảng viên) và chủ thể học (sinhviên). Vì vậy, để đảm bảo thực hiện dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin theo phương pháp tích cực cần phải có yêu cầu đối với người họcvề phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp dạy học tích cực, thể hiệntrên các mặt: nhận thức đúng mục đích học tập, tự giác học tập, biết cách tựhọc và có kỹ năng tiếp nhận phương pháp dạy học mới của thầy.

            Nhưphần thực trạng đã phân tích, sinh viên trường Đại học Quảng Bình đã quen vớiphương pháp học truyền thống cùng với thói quen ỷ lại, thụ động tiếp thu bàigiảng, nay lại tiếp cận với phương pháp dạy học mới không khỏi bở ngỡ và khótránh khỏi lúng túng ban đầu. Vì thế, khi thiết kế bài giảng nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin theo hướng tích, mỗi giảng viên cần phải nghiên cứu kỹvề đối tượng dạy học của mình trên nhiều khía cạnh như: trình độ, khả năng tiếpthu, chuyên ngành đào tạo, giáo trình, tài liêụ tham khảo, phương tiện dạy họcđể thiết kế bài giảng cho phù hợp, mặt khác, giảng viên phải chủ động hướng dẫnphương pháp học tập môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cho sinhviên. Việc đổi mới, tăng cường năng lực tự học của sinh viên sẽ tăng dần theomức độ, năng lực thích ứng của sinh viên, tránh thực hiện ồ ạt, làm cho sinhviên chán nản, bất lực trước nhiệm vụ học tập.

Đối với các cấp quản lý, để thực hiện dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin ở Trường đại học Quảng Bình theo phương pháp tích cực đòi hỏicác cấp lãnh đạo, quản lý trường, khoa Lý luận chính trị, tổ Lý luận Mác-Lênincần tiến hành một số công việc cần thiết trước mắt như sau: Tạo điều kiện chotất cả giảng viên giảng daỵ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênindự các lớp bồi dưỡng, tập huấn hè hàng năm (vì tất cả giảng viên đó chỉ đào tạomột chuyên ngành hẹp, trong khi giảng dạy ở phạm vi quá rộng); Trang bị loa máycho các phòng học; Ghép lớp theo khối A, B, C và số lượng của mỗi lớp không quá60sv; Tạo kinh phí cho công tác coi thi, chấm thi, ra đề, đặc biệt công tácchấm thi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Đặng Văn Đức (2008) Phương pháp dạy học địa lý theo hướng tíchcực, Nxb đại học sư phạm.

2.      Trần Thị Mai Phương(2009) Dạy học kinh tế chính trị theophương pháp tích cực, Nxb đại học sư phạm.

3.      Trần Bá Hoành (2007)Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình, sách giáo khoa, Nxb đại học sư phạm.

 

 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

                                                                                        ThS. Nguyễn Đình Lam

                                                                        Tổ Lịch sử Đảng-Tư tưởng Hồ ChíMinh

Tóm tắt

             Trong những năm gần đây đã có nhiều công trìnhkhoa học đã bàn về nâng cao chất lượng dạy học các môn học ở các trường Đại họcvà Cao đẳng. Đội ngũ giảng viên thường xuyên coi trọng đổi mới phương pháp dạyhọc. Nhiều ý tưởng sáng tạo và nhiều giải pháp có cơ sở khoa học đã được ápdụng trực tiếp nhằm nâng cao chất lượng dạy học và chất lượng giáo dục - đàotạo. Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ và đặc thù của môn học tư tưởng Hồ ChíMinh, tôi bước đầu đưa ra một số nhiệm vụ và phương pháp dạy học môn tư tưởngHồ Chí Minh.

Mở đầu

             Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, đồngthời là môn học bắt buộc ở các trường Đại học và Cao đẳng. Vì vậy, ở lĩnh vựcdạy và học chúng ta cần tìm hiểu một số vấn đề có liên quan đến việc nắm vững,tìm hiểu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh vớiphương pháp dạy học tư tưởng Hồ Chí Minh là một nguyên tắc sư phạm nhằm bảo đảmchất lượng dạy học bộ môn. Trong phạm vi bài viết này, tôi nêu ra một số vấn đềchung về phương pháp giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Nội dung

1. Sựcần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cáchlà một chuyên ngành khoa học

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và pháttriển trong quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, gắn liền với quátrình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ViệtNam và các nước thuộc địa, phụ thuộc trong thời đại mới. Tư tưởng Hồ Chí Minhtuy là tư tưởng của một con người cụ thể, song là ý thức hệ tư tưởng của dântộc Việt Nam,của thời đại. Nó "sống mãi trong kho tàng văn hóa nhân loại"1,trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân loại. Đại hội đại biểutoàn quốc của Đảng khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quanđiểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kếtquả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiệncụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp củadân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại... Tư tưởng của Người được quántriệt trong mọi chủ trương, đường lối hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dânta. Cho nên, "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động".2 Do đó, việcnghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vàtư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc quan trọng bậc nhất.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ môn khoa học,được đưa vào giảng dạy trong các trường Đại học và Cao đẳng ở nước ta từ nămhọc 2003 - 2004. Để tiến hành việc dạy và học bộ môn này có kết quả tốt, cần cóphương pháp dạy, học, nghiên cứu khoa học. Quá trình dạy học bộ môn tư tưởng HồChí Minh là một quá trình nhận thức có quy luật. Theo các nhà giáo dục học thì"cấu trúc của quá trình dạy học (bất cứ một bộ môn nào) cũng có hai loại:cấu trúc mặt nội dung của dạy học và mặt cấu trúc quá trình của dạy học"3. Quá trình dạy học tư tưởng Hồ Chí Minh cũng có hai mặt, quan hệ chặtchẽ với nhau: nội dung dạy học tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình dạy học đểtruyền thụ, tiếp nhận nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh. Do đó, trong quá trình dạyhọc cần làm sáng tỏ khái niệm "nội dung dạy học tư tưởng Hồ Chí Minh"với "khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh". Những thành tựu nghiên cứu củakhoa học tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở của việc lựa chọn các kiến thức cơ bảnđể dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở nhà trường. Ở trường Đại học và Cao đẳngsinh viên phải học tập, nghiên cứu khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh chứ không phảichỉ tiếp thu những kiến thức cơ bản của bộ môn. Song giới hạn của chương trình,điều kiện học tập, nhất là quỷ thời gian học tập không nhiều (2 tín chỉ) nênviệc học tập của sinh viên chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản. Vì vậy, việclựa chọn, xác định kiến thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh để dạy học là mộtvấn đề cần nghiên cứu của việc đổi mới phương pháp dạy học môn tư tưởng Hồ ChíMinh.

2. Nhiệm vụ của phương pháp dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Xuất phát từ nội dung, nhiệm vụ của bộ môn,phương pháp dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh có những nhiệm vụ cụ thể:

- Xác định rõ mục tiêu giáo dục bộ môn, tức là nêu rõ việc học tập tưtưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một khoa học để làm gì? Khắc phục tình trạngxem môn tư tưởng Hồ Chí Minh đơn thuần là giáo dục chính trị mang tính giaicấp.

- Làm rõ chức năng của việc dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh trên cácmặt:

+ Cung cấp kiến thức khoa học.

+ Giáo dục tinh thần, thái độ, tư tưởng; nội dung khoa học của tư tưởngHồ Chí Minh là nội dung, cơ sở của việc giáo dục tư tưởng, thái độ, tinh thầnvới những phương pháp, biện pháp sư phạm thích hợp.

+ Rèn luyện kỹ năng tư duy và thực hành trong học tập, nghiên cứu tưtưởng Hồ Chí Minh

Ba mặt này phải được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ, không táchrời nhau:

- Đề xuất các phương pháp, biện pháp, thao tác sư phạm hợp lý, có cơ sởkhoa học và hiệu quả trong dạy học (bao gồm việc giảng dạy, học tập, kiểm tra,đánh giá, vận dụng kiến thức đã học).

- Phương pháp dạy học tư tưởng Hồ Chí Minh còn có nhiệm vụ nghiên cứunhững nguyên tắc xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu bài giảng, tài liệutham khảo, các hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học ...

Tóm lại, nhiệm vụ của phương pháp dạy học tư tưởng Hồ Chí Minh cần phảigiải đáp được những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc dạy học tưtưởng Hồ Chí Minh; trang bị cho sinh viên những lý luận khoa học về quá trìnhdạy học bộ môn, những kỹ năng tư duy và thực hành, giáo dục tinh thần, thái độ,tư tưởng trong học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Giải đáp những vấn đề cơ bản, khoahọc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ bằng kinh nghiệm, cảm tính mà phảinghiên cứu trên cơ sở khoa học, cớ hiệu quả thực tiễn những vấn đề thiết thực,đảm bảo chất lượng giáo dục bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh.

             3. Phương pháp dạy học tư tưởng Hồ Chí Minh

            Quátrình dạy học đại học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy củagiảng viên và hoạt động học của sinh viên nhằm đạt tới các nhiệm vụ dạy học ở đạihọc. Trong đó, giảng viênphải cócách thức dạy và sinh viên phải có cách thức học, tự nghiên cứu.

            Trong quá trình dạy học ở đại học, giảngviên là chủ thể của hoạt động dạy, giữ vai trò chủ đạo với chức năng tổ chức,điều khiển, hướng dẫn hoạt động học cho sinh viên nhằm đảm bảo cho sinh viên thựchiện đầy đủ và có chất lượng cao những yêu cầu được quy định phù hợp với mụctiêu môn học.

  Dạy học đại học hiện đại đặt ra yêu cầu bứcxúc là phát huy tối đa tính tích cực chủ động của người học. Dạy học phảithực sự hướng vào người học, đóchính là hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy cao độ tính tích cực,sáng tạo của sinh viên trongquá trình dạy học theo học chế tín chỉ hiện nay. Để đạt mục tiêu đó, giảngviên phải hiểu từng nhóm đối tượng sinh viên, giảng viên mới có thể lựa chọnphương pháp dạy học thích hợp, mới có cơ sở để phát huy tính tích cực, chủ độnghọc tập của sinh viên. Dođó, giảng viên phải là người hướng dẫn, tổ chứcđiều khiển hoạt động học tập củasinh viên. Sinh viên là chủ thể chính trong quá trình tiếp thu tri thức. Dưới sự tổ chức, điều khiển của giảng viên, sinh viên chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo bằng chính hành độnghọc tập của mình; giảng viên phải tổchức, dẫn dắt để sinh viên khám phá bản chất vấn đề. Sinh viên ghi nhớ vững chắc và lâu dài nhữngtri thức cơ bản đó là nhữngtư tưởng chủ đạo, những luận điểm, những nguyên lý chủ yếu của khoa học.Thông qua quá trình nắmvững hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo giúp sinh viên có khả năng “năng động”, cónăng lực thích ứng cao trong quá trình lĩnh hội và vận dụng tri thức trong các tình huống quen thuộc mà còn vào các tình huống mới muôn màu muôn vẻ trong thực tiễn nghề nghiệp trong tương lai.

             Việc lựa chọn phươngpháp dạy học thích hợp là rất cần thiết đối với cả giảng viên và sinh viên. Tùytheo nội dung của từng chương để đề ra phương pháp dạy học thích hợp. Ở bài viếtnày tôi xin đề cập đến phương pháp đối thoại và nêu vấn đề phát huy tính tích cứccủa sinh viên. Phương pháp này tạo thành một quá trình gắn kết nhận thức giữathầy và trò, tạo thế liên hoàn giúp sinh viên có thể nắm bắt một cách cơ bản nhữngquan điểm, tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Giảng viên và sinhviên trao đổi ngay những vấn đề được nêu ra, giải đáp những vấn đề trong thực tế.Cách học mang tính gợi mở, người học phải động não, người thầy phải nhuần nhuyễnkiến thức cơ bản, có kinh nghiệm thực tiễn và thật sự "tất cả vì họcsinh". Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của sinh viên phải đảm bảocác yêu cầu sau:

   -  Trong bài giảng giảng viên chỉ cung cấp nhữngkiến thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh được quy định trong chương trình, thểhiện trong giáo trình, song chủ yếu là gợi vấn đề để sinh viên tìm đọc, tiếp nhậnkiến thức theo sự hướng dẫn của giảng viên.

   - Bài giảng là việc giới thiệu,hướng dẫn sinh viên tự học theo giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, song được tiếpcận với nhiều nguồn kiến thức khác có liên quan đến bài học theo sự hướng dẫn củagiảng viên. Biết tự nêu và giải quyết vấn đề của bài học.

   - Sinh viên phải chủ độngtrong ghi chép bài học trên lớp (những kiến thức mới, những vấn đề được hướng dẫnđi sâu hay mới nảy sinh khi nghe giảng). Ngoài giờ học, tự làm việc, trao đổi,thảo luận với bạn học, đọc tài liệu tham khảo.

   - Các vấn đề được lần lượt tìmhiểu về tư tưởng Hồ Chí Minh đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Kiến thứctrước làm cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức sau. Kiến thức bài đang học củng cốkiến thức đã học và chuẩn bị cơ sở cho việc tiếp thu bài mới.

   - Độ sâu của vấn đề đang họcthể hiện ở sự nhận thức, kết quả của việc đào sâu suy nghĩ chứ không phải dừnglại ở việc ghi nhớ học thuộc lòng. Tuy nhiên, phải biết nắm vững các kiến thứccơ bản để hiểu.

   - Các câu hỏi, bài tập đòi hỏisinh viên phải biết và hiểu các kiến thức, vận dụng kiến thức đã học vào các hoạtđộng thực hành. Sinh viên còn nêu vấn đề để tự giải quyết, tự kiểm tra, tự đánhgiá, kiểm tra, đánh giá với nhau.

   - Kết hợp chặt chẽ việc học tậptrên lớp với các hoạt động ngoại khóa, thực hành với các cuộc tham quan bảotàng...

   - Giảng viên phải hướng dẫnsinh viên cách nghiên cứu, viết tiểu luận. Đây là cơ hội để sinh viên nhìn vấnđề có hệ thống, toàn diện, sâu sắc.

   Cách dạy học phát huy tínhtích cực của người học tạo cho sinh viên sự hứng thú, say mê với môn học; sinhviên hiểu những đóng góp lớn lao của Hồ Chí Minh cả về lý luân và thực tiễn, từđó quyết tâm phấn đấu thực hiện tư tưởng của Người.

Kết luận

            Để nâng cao hiệu quả của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minhtrong các trường Đại học và Cao đẳng cần phải tiến hành nhiều khâu, nhưng đẩy mạnhviệc đổi mới phương pháp dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh là quan trọng bậc nhất.Việc đổi mới được thực hiện theo hướng "phát huy tính tích cực","khuyến khích tự học", "áp dụng những phương pháp giáo dục hiệnđại để bồi dưỡng cho sinh viên năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấnđề" như Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư, khóaVII đã nêu. Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ haikhóa VIII chỉ rõ: "Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lốitruyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từngbước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạyhọc, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất làsinh viên đại học".

 

TÀILIỆU THAM KHẢO

        1. Giáo trình giảng dạy môn Tư tưởng HồChí Minh.

        2. Hội thảo khoa học về phương phápgiảng dạy đại học theo học chế tín chỉ của trường ĐH Sư phạm Hà Nội.

  3. Lê Văn Tích (CB) (2006) Đưa tư tưởng HồChí Minh vào cuộc sống, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốcgia, Hà Nội, 2006.

 

 

 

  

 

 

 

 

 

TÍCH CỰC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LẤY NGƯỜI HỌC LÀM TRUNG TÂM VÀO DẠYHỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN

CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 1 HIỆN NAY

                                                        ThS. Lương Thị Lan Huệ

Tổ Lý luận Mác-Lênin

Tóm tắt

 Từ thực trạng dạy họcmôn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1 (phần triết học)  hiện nay, tác giả thấy còn nhiều vấn đề tiếptục phải suy nghĩ giải quyết từ nội dung chương trình đến phương pháp dạy vàphương pháp học. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu ra một số khó khăn,hạn chế nhìn từ phía người dạy, người học và một số phương pháp dạy học tíchcực bổ sung cho phương pháp thuyết trình (được sử dụng độc tôn trong giảng dạytriết học từ trước đến nay).

Mở đầu

            Chủnghĩa Mác-Lênin với tư cách là một học thuyết, một khoa học đóng vai trò là cơsở lý luận và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng trên toàn thế giới. Đối với cách mạng Việt Nam nhờ ánh sáng soi đường của chủnghĩa Mác-Lênin, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh đãđi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong giai đoạn hiện nay là từng bướcthực hiện thành công sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Vì vậy, giảng dạyvà học tập tốt các môn khoa học Mác-Lênin có ý nghĩa quan trọng góp phần xâydựng thế giới quan khoa học, cách mạng đúng đắn cho thế hệ trẻ- những chủ nhântương lai của đất nước.

Trong những năm vừa qua,dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1 (phần triết học)đã có khởi sắc. Với phương châm lấy người học làm trung tâm đã tạo sự thay đổicăn bản về quan niệm dạy và học triết học. Sinh viên chủ động, tích cực hơn tronghọc tập, được thể hiện mình và tự tin hơn trong giao tiếp. Vì vậy cần phải đẩymạnh hơn nữa việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy. Trongphạm vi bài viết này, chúng tôi muốn chia sẻ thông tin về những khó khăn, thửthách trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-lênin 1 (phầntriết học) nhìn từ phía người dạy và người học, và sự cần thiết đẩy mạnh hơnnữa vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào dạy học bộ môn này.

Nội dung

1. Một số khó khăn, hạn chế trong dạy học môn Những nguyên lýcơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1 ở Trường Đại học Quảng Bình

Chất lượng, hiệu quả của1 tiết dạy phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó có 3 yếu tố tác động trực tiếp đếnhiệu quả của giờ lên lớp (ở bậc đại học, cao đẳng) đó là sinh viên (người học),giảng viên (người thầy) và cơ sở vật chất. Trong đó quan trọng nhất vẫn làngười dạy và người học.

1.1. Đối với sinh viên (người học)

Hầu hết, sinh viên nămthứ nhất khi học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1 có một sốhạn chế như sau:

 Thứ nhất, sinh viêncòn bỡ ngỡ, lúng túng với môi trường học tập mới; chưa có phương pháp, ý thứctập trung cao để học tốt môn học dẫn đến kiến thức đọng lại trong đầu rất ít. Sở dĩ như vậy là vì sinh viên nămthứ nhất xuất thân từ các nơi khác nhau cùng về học chung một lớp. Do đó, đặcđiểm tâm lý chung của các em là bỡ ngỡ, lạ lùng về môi trường học tập, sinhsống mới, các môn học mới. Trong các môn học đại cương, “Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin1” được sinh viên đánh giá là một môn học khó bởi nómang tính lý luận, khái quát, trừu tượng cao. Phần lớn sinh viên đều e ngại, tỏra không hào hứng khi học môn này. Các em chưa dành thời gian đầu tư nghiên cứuvà tự học chủ yếu là học đối phó dẫn đến kiến thức ghi nhớ không bền vững, chưabiến kiến thức của bài học thành kiến thức riêng có của mình. Một số phạm trùtriết học được xem là gần gũi với thực tiễn cuộc sống của sinh viên như nguyênnhân, kết quả, bản chất, hiện tượng, mối liên hệ phổ biến, phát triển... thìkhả năng vận dụng, rút ra ý nghĩa phương pháp luận của sinh viên còn hạn chế.Một số sinh viên có tinh thần học tập tốt cũng tỏ ra lúng túng về phương pháphọc. Tình trạng học đối phó, học để thi còn phổ biến trong sinh viên dẫn đếncách học thuộc lòng, học vẹt, nhiều em học xong là quên, kiến thức đọng lạitrong đầu rất ít. Đơn cử  kết quả của kỳthi kết thúc học phần môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (phầntriết học) Trường Đại học Quảng Bình học kỳ 1 năm học 2013-1024 cho thấy điểmtổng kết học phần của hầu hết sinh viên ở trong ngưỡng từ 3.0-6.9 điểm hệ chữ Cvà D. Sinh viên không làm được bài vì không hiểu và không nhớ gì. Đó là mộtthực trạng đáng báo động đòi hỏi giảng viên và sinh viên cần đổi mới hơn nữa vềcách dạy, cách học và cách kiểm tra, đánh giá hiện nay.

Thứ hai, sinh viên chưa có thói quen tư duy phản biện triếthọc. Tư duy phảnbiện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tinđã có theo cách nhìn khác cho một vấn đề đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng địnhlại tính chính xác của vấn đề. Mục tiêu của phương pháp dạy học tích cực-lấyngười học làm trung tâm không chỉ là kiến thức và kỹ năng mà còn phải coi trọngphương pháp tư duy, suy nghĩ, chính kiến của người học. Có như vậy kiến thứcmới được ghi nhớ bền vững hơn. Thực tế giảng dạy cho thấy, các giờ thảo luậntriết học và làm việc theo nhóm, sinh viên còn thụ động, có tư tưởng ngồi chờ,ỉ lại, xuề xoà, chỉ ngồi nghe mà không có chính kiến. Sau khi nhóm trưởng trìnhbày phần thảo luận của nhóm đa số các em đều tán thành, chưa có thói quen đặtcâu hỏi chất vấn như: Tại sao?  Vì sao cókết quả như thế? Nêu ví dụ chứng minh? Cần làm rõ thêm các ý? Điều này tôi chưahiểu..vvv. Khi sinh viên chưa hình thành được thói quen tư duy phản biện triếthọc (đặt câu hỏi chất vấn, lấy ví dụ phân tích, chứng minh, diễn giải các vấnđề triết học) cũng đồng nghĩa với “học chay”, “học cho qua” môn này, chưa thựcsự hợp tác và phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Có thể nói, trongcác phương pháp dạy học tích cực, thảo luận nhóm và làm việc theo nhóm vẫn làphương pháp được sử dụng phổ biến. Do đó, nếu như sinh viên chưa có thói quencó tư duy phản biện sẽ làm cho giờ học nhàm chán, phương pháp dạy học tích cựctrở nên không hiệu quả.

Thứ ba, sinh viên chưa có kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ. Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ làgiao tiếp thông qua cử chỉ, hành động của cơ thể như nét mặt, điệu bộ, cử chỉ,hành động. Những hình thức giao tiếp này đóng vai trò hết sức quan trọng trongquá trình giao tiếp, chuyển tải thông tin. Ví dụ, khi sinh viên thuyết trìnhnội dung thảo luận của nhóm hoặc bài tập cá nhân nếu  sử dụng các động tác, cử chỉ, điệu bộ bổ trợđể biểu lộ, minh hoạ cho bài thuyết trình của mình ngay lập tức sẽ thu hút sựchú ý, quan tâm của cả lớp. Đồng thời nó cũng chứng tỏ sự tự tin, cái tôi trongquá trình học tập của sinh viên. Khác với các bộ môn khoa học khác, triết họcđược xem là một môn học mang tính lý luận, trừu tượng cao và khó so với tư duycủa sinh viên năm thứ nhất. Vì vậy, khi trả lời câu hỏi, hay thuyết trình bàitập thảo luận nhóm sinh viên tỏ ra rất căng thẳng.

  Thực tế cho thấy, hầu hết sinh viên năm thứnhất chưa có kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ, chủ yếu sử dụng thuần tuý ngôn ngữđể thuyết trình dẫn đến hiệu quả giờ thảo luận chưa cao. Ví dụ, khi lên bảngtrình bày thay vì nhìn xuống lớp để trao đổi thông tin thì một số sinh viênquay mặt về phía giảng viên, đứng nghiêm tỏ vẻ lo lắng, sợ sệt. Một số em trìnhbày theo kiểu học thuộc làm cho người nghe nhàm chán. Nguyên  nhân của hạn chế này có thể là do tố chất củamột số sinh viên nhút nhát, không tự tin khả năng của mình, hoặc do chưa nắmđược nội dung triết học cần chuyển tải, do bí từ diễn đạt, do ức chế tâm lý khiđứng trước đám đông. Những hạn chế trên đang là rào cản lớn trong việc thựchiện phương pháp dạy học tích cực-Lấy người học làm trung tâm.

1.2. Đối với giảng viên

Trong thời gian qua, việcdạy và học các môn khoa học Mác-Lênin nói chung và môn Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin (phần triết học) nói riêng ở các trường đại học nói chungvà Trường Đại học Quảng Bình nói riêng đã mang tinh thần hơi thở của không khíđổi mới. Trong kết cấu thời gian, một thời lượng đáng kể dành cho thảo luậnđược đặt ra. Tuy nhiên, phổ biến vẫn là phương pháp dạy học truyền thống, giảngviên thuyết giảng, sinh viên nghe và ghi chép lại. Nhiều giảng viên đã “lạmdụng”  phương pháp này làm cho không khílớp học trở nên nặng nề, hiệu quả dạy học chưa cao. Một số giảng viên đã sửdụng phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu, phim ảnh nhưng chưa thực sự tạora động cơ tự học, tự nghiên cứu, ứng dụng của sinh viên. Ngoài ra, một sốtrường có quan niệm đây là môn học chung nên ghép lớp dẫn đến số lượng sinhviên trong một lớp học rất đông, có lớp sĩ số trên 150 sinh viên. Thực tế chothấy lớp học chung và quá đông có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng học tập mộtcách trực tiếp. Cụ thể, giảng viên không thể bao quát, kiểm soát hết.

 Theo chúng tôi, hứng thú học tập môn Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1 phụ thuộc nhiều vào cách dạy củagiảng viên. Đành rằng phương pháp thuyết trình là phương pháp cơ bản phù hợpvới tư duy nội dung của bộ môn này. Tuy nhiên không nên xem đây là phương phápđộc tôn, duy nhất mà cần tích cực vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy họctích cực khác như phương pháp trò chơi, phương pháp thảo luận nhóm và làm việctheo nhóm, phương pháp động não... Có như vậy kiến thức sinh viên lĩnh hội đượcbền vững hơn, và quan trọng là biết ứng dụng, biết thể hiện quan điểm của mìnhtrước một vấn đề đặt ra trong  thực tiễncuộc sống.

2. Một số phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâmnhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin 1

2.1.  Phương pháp phábăng

Cơ sở lý luận của phươngpháp này là sinh viên năm thứ nhất từ các nơi khác nhau cùng về học chung mộtlớp. Sự khác nhau về nơi ở, về môi trường học tập mới, môn học mới, thầy cô mớidẫn đến tâm lý chung của các em là bỡ ngỡ, lạ lùng, lúng túng, vừa muốn “tìmhiểu” lại vừa “phòng thủ”, e ngại. Điều này tạo nên sự “đóng băng” trong quanhệ giao tiếp. Nó là cản trở cho giảng viên thực hiện phương pháp thảo luận nhómvà làm việc theo nhóm. Vì vậy, việc làm đầu tiên  của giảng viên là phải “phá băng”, phá tankhoảng cách trong giao tiếp để các em hợp tác, cởi mở hơn. Phương pháp này đượchiểu như một trò chơi thường được tiến hành vào buổi đầu tiên lên lớp của giảngviên.

Cách thức tiến hành:Giảng viên mời khoảng 8 sinh viên tham gia trò chơi, chia thành 4 cặp đôi. Mỗicặp đôi (2 sinh viên) người đóng vai “hỏi” và người còn lại đóng vai “trả lời”.Người đóng vai hỏi có nhiệm vụ thu thập thật nhiều thông tin về người bạn củamình. Sau 3 phút, cặp đôi nào nói được nhiều thông tin  về người bạn của mình nhất thì cặp đôi đóchiến thắng.

Ý nghĩa, tác dụng của tròchơi này là làm cho không khí của lớp học vui vẻ, hoà đồng, thân thiện hơn,giúp cho sinh viên hiểu biết lẫn nhau, thấy được tầm quan trọng của việc hợptác, chia sẻ thông tin trong học tập và trong cuộc sống. Từ đó, sinh viên sẽ cóý thức hợp tác, chia sẻ, tương trợ trong các giờ thảo luận nhóm và làm việctheo nhóm. Đây không chỉ là hoạt động làm quen đơn thuần mà còn là một cáchthức tổ chức lớp học lấy người học làm trung tâm.

2.2. Phương pháp sơ đồ mạng nhện

Cơ sở lý thuyết củaphương pháp này là “học là việc của người học chứ không phải của người dạy”. Vìvậy, người học phải độc lập, suy nghĩ và tự đưa ra câu trả lời.

Cách thức tiến hành:Giảng viên vẽ lên bảng một vòng tròn, ở giữa vòng tròn là câu hỏi (nội dung)triết học sinh viên cần tìm hiểu. Xung quanh vòng tròn là các tia. Sinh viên tựnghiên cứu trong khoảng thời gian nhất định (thường từ 3-5 phút) sau đó chọnnhững từ trọng tâm nhất để điền vào các tia xung quanh vòng tròn. Vận dụngphương pháp này bắt buộc 100% sinh viên có sẵn giáo trình  và phải tư duy để tìm ra câu trả lời ngắn gọnnhất. Sau khi hoàn thành sơ đồ màng nhện, giảng viên cử một hoặc hai sinh viênnhìn vào nội dung “rút gọn” trên sơ đồ để lý giải và chứng minh làm rõ vấn đề.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Ví dụ, trung tâm ở giữavòng tròn là: Tính chất của mối liên hệ, sinh viên phải điền vào các tia làtính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng và phong phú.

Ý nghĩa, tác dụng củaphương pháp này là rèn luyện cho sinh viên khả năng tư duy xác định nội dungtrọng tâm của vấn đề triết học, rèn luyện kỹ năng phân tích, lý giải vấn đề.Đây cũng là một phương pháp tốt giúp cho sinh viên củng cố, ôn tập các kiếnthức đã học.

2.3. Phương pháp thảo luận nhóm  và làm việc theo nhóm

Thảo luận nhóm và làmviệc theo nhóm được vận dụng trong dạy học triết học nhằm giúp cho sinh viêntham gia chủ động vào quá trình học tập, chia sẻ những kinh nghiệm, ý kiến hayđể giải quyết một vấn đề triết học nào đó.

Cách tiến hành: Giảngviên chia nhóm (nhóm theo danh sách, hoặc theo bàn, theo tổ, theo đơn vị hànhchính), các nhóm có số lượng vừa phải để mọi người có thể đóng góp ý kiến, côngbố thời gian. Giảng viên giới thiệu vấn đề triết học cần thảo luận. Khuyếnkhích sinh viên suy nghĩ theo lối phản biện (suy nghĩ độc lập, lập luận, chứngminh, chia sẻ quan điểm của mình). Một số nội dung thảo luận khó giảng viên cầnsử dụng phương pháp bắc giàn (gợi ý).Ví dụ chủ đề thảo luận là: Làm rõ vai tròquyết định của vật chất đối với ý thức. Giảng viên yêu cầu sinh viên phải đưara luận chứng để chứng minh vật chất là tính thứ nhất, ý thức, tinh thần là tínhthứ hai, vật chất có trước và quyết định ý thức. Giảng viên đặt ra một số câuhỏi liên quan đến chủ đề vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức để sinhviên suy nghĩ.

- Dựa vào các tư liệukhoa học cho thấy, ý thức con người có nguồn gốc từ vật chất có tổ chức cao làóc người. Không có óc người thì không có ý thức. Dựa vào các học thuyết, phátminh khoa học nào để xác định điều đó? (Dựa vào thuyết phản xạ của Paplop, dựavào điện não đồ của nhà bác học Anokin, dựa vào chứng minh của y học về bộ nãongười bị tổn thương sẽ không có ý thức).

 Sau khi thảo luận đại diện từng nhóm trình bàykết quả thảo luận trước lớp. Các nhóm khác cùng tham gia nhận xét, góp ý.Khuyến khích sinh viên tranh luận tích cực, lịch sự ngay tại lớp trong lúc làmviệc nhóm, biết tôn trọng người khác trong khi tranh luận. Sau cùng là kết luậncủa giảng viên. Ngoài ra, giảng viên có thể sử dụng phương pháp làm việc theonhóm như giao bài tập về nhà cho các nhóm, sau đó  đại diện nhóm trình bày kết quả.

Để rèn luyện thói quen tưduy phản biện và bồi dưỡng kỹ năng giao tiếpphi ngôn từ giảng viên cần cử lớp trưởng (có thể luân phiên) điều hànhthảo luận nhằm tạo không khí tự nhiên, cởi mở trong lớp học.

Khác với một số bộ mônkhác, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin đã có giáo trình chuẩnquốc gia vì vậy, giảng viên yêu cầu sinh viên trong giờ thảo luận và làm việctheo nhóm cần lấy ví dụ để chứng minh, lý giải vấn đề.

2.4. Phương pháp dạy học đóng và mở

Xuất phát từ quan điểm:Nếu hai đường thẳng gặp nhau tại một điểm thì ta coi đó là xu hướng đóng, ngượclại hai đường thẳng từ một điểm nhưng đi về hai hướng khác nhau đó là xu hướngmở. Các hoạt động dạy học có các câu hỏi mà giáo viên biết trước câu trả lờiđược gọi là dạy học đóng, còn các hoạt động dạy học có các câu hỏi mà nhiềucách trả và kết quả trả lời khác nhau vẫn đúng được xem là dạy học mở. Đây làmột phương pháp được sử dụng rộng rãi trong dạy học vì thực chất của quá trìnhdạy học tích cực là nêu câu hỏi. Nhưng sử dụng câu hỏi như thế nào để phù hợpvới nội dung, mục tiêu của bài, biết đặt câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ và đảm bảonguyên tắc tính vừa sức,  tính nâng caotrong dạy học là việc đáng bàn. Theo chúng tôi, trong triết học cần tích cựcvận dụng phương pháp dạy học đóng, mở đặc biệt là phương pháp dạy học mở. Vì ởlứa tuổi sinh viên đã hình thành và phát triển tư duy phân tích, phản biện.Giảng viên cần nghiên cứu kỹ bài dạy, xác định mục tiêu, nội dung trọng tâm từđó đặt ra câu hỏi theo mức độ tăng dần từ dễ đến khó. Câu hỏi phải ngắn gọn, dễhiểu, dễ nhớ. Tuỳ theo nội dung bài dạy mà giảng viên lựa chọn loại câu hỏikhác nhau để làm sáng tỏ nội dung, trải nghiệm, vận dụng của sinh viên. Ví dụkhi dạy chương 1: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, giảng viên sử dụng các loại câuhỏi sau:

- Câu hỏi đóng (để khẳngđịnh hay phủ định một vấn đề nào đó của triết học)

. Nhà triết học Canto chorằng, con người không thể nhận thức được thế giới khách quan. Ông là nhà triếthọc thuộc trường phái khả tri hay bất khả tri?

. Câu tục ngữ: “Không aigiàu ba họ, không ai khó ba đời” thể hiện tư tưởng biện chứng hay siêu hình?

- Câu hỏi mở (dùng để táihiện, nâng cao kiến thức, khả năng ứng dụng, trải nghiệm của sinh viên)

. Sự khác nhau căn bảngiữa phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm.

.Vì sao nói, mối quan hệgiữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học?

. Lấy ví dụ trong ca dao, tục ngữ người Việt để minh hoạ nguyên lý mốiliên hệ phổ biến.

. Lấy ví dụ trong cuộcsống, học tập của sinh viên để minh hoạ mối liên hệ phổ biến.

Để vận dụng phương phápnày có hiệu quả, đòi hỏi giảng viên phải dành thời gian nghiên cứu, thiết kếbài dạy, đặc biệt suy nghĩ việc đặt câu hỏi đóng, mở một cách khoa học, khônghỏi tuỳ tiện. Đối với những câu hỏi khó, nâng cao giảng viên nên có một số gợiý để sinh viên có định hướng câu trả lời đúng. Đồng thời, giảng viên luônkhuyến khích sinh viên tự đặt câu hỏi trong các vấn đề triết học, có như vậysinh viên mới thực sự học. Nhà bác học Albert Einstein từng nói: “Điều quantrọng là đừng bao giờ ngừng đặt câu hỏi về bất kỳ vấn đề nào mà bạn đang tìmcách giải quyết. Càng đặt nhiều câu hỏi, bạn sẽ hiểu nhiều về vấn đề đó bấynhiêu. Những người sáng tạo cao thường biết vượt qua cái bóng của mình để đặtra những câu hỏi, đây là bản tính của họ. Những câu hỏi không phải là những lờiphê phán hay sự chỉ trích mà chỉ đơn giản là chất vấn, thăm dò”.

Kết luận

Để nâng cao chất lượngdạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1 (phần triết học)cần có nhiều yếu tố trong đó việc đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ là một trongnhững yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo một cách bền vững.Triết học là hệ thống những quy luật chung nhưng các quy luật chung đó phảiđược thể hiện trong những cái cụ thể. Vì vậy cần phải gắn triết học với cácchuyên ngành. Giảng viên phải là người đi đầu trong tự học, tự nghiên cứu, sưutầm, tra cứu tài liệu và sử dụng các phương tiện dạy học. Ngoài phương phápthuyết trình, giảng viên cần linh hoạt sử dụng các phương pháp dạy học tích cựcbổ trợ  khác. Cần thay đổi quan niệm “đưachân lý đến cho học sinh” bằng quan niệm “hướng cho học sinh tự đi tìm chânlý”.

Một số kiến nghị

- Đối với Bộ giáo dục và Đào tạo

Cần chỉnh sửa những nộidung chưa phù hợp, chưa tường minh trong giáo trình mới môn “ Những nguyên lýcơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1” nhất là phần Nhập môn.

- Đối với Trường Đại học Quảng Bình

+ Cần tạo điều kiện chocác giảng viên giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin  (không phải là quản lý) tập huấn hằng năm.

+ Không nên ghép lớp cósố lượng quá đông (trên 60 sinh viên).

+ Cần trang bị hệ thốngloa máy hiện đại.

- Đối với giảng viên

            +Tích cực hơn nữa vận dụng phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm.

            +Tăng cường nghiên cứu ở nhà, tìm tòi tài liệu, cập nhật thông tin mới để làmgiàu thêm kiến thức chuyên môn.

            +Cùng với tổ bộ môn biên soạn ngân hàng câu hỏi.

- Đối với sinh viên

            +Xây dựng thái độ động cơ học tập đúng đắn (có ý thức nghe giảng, ghi chép, xâydựng bài, có tinh thần làm việc với nhóm, tỏ rõ chính kiến trong thảo luận).

            +Hình thành thói quen kỹ năng sưu tầm tra cứu tài liệu.

            +Rèn luyện tư duy phản biện và kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ trong học tập,giao tiếp.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2009.

2. Mạnh Tuấn, Những kỹ năng học tậphoàn hảo dành cho sinh viên, Nxb Văn hoá thông tin, năm 2005.

3. GS Jan- Bài giảng cho lớp Bồidưỡng Sau đại học tại Trường Đại học New England-New South Wales-Australia, năm2007.

4. Tài liệu tập huấn Dạy học theo môhình trường học mới ở Việt Nam(www.tieuhoc.moet.gov.vn, năm 2013.

 

 

 

 

GIẢNG DẠY HỌC PHẦN “NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 1” CẦN SÁT THỰC VỚI TỪNG ĐỐI TƯỢNG SINH VIÊN

CÁC NGÀNH HỌC

                                                                         ThS.Trần Hương Giang

Tổ Lý luận Mác - Lênin

Tóm tắt

 Hiện nay, đểhòa mình vào xu thế phát triển của xã hội, ngành giáo dục cần phải có sự đổimới. Có rất nhiều vấn đề cần phải đổi mới: từ cách quản lý, tổ chức, chươngtrình đào tạo đến giáo trình. Một trong những vấn đề quan trọng để nâng caochất lượng, hiệu quả đào tạo là thay đổi phương pháp giảng dạy. Muốn nângcao chất lượng giảng dạy thì phải đổi mới phương pháp. Do vậy việc đổi mớiphương pháp giảng dạy có ý nghĩa rất quan trọng. Hiệu quả giáo dục phụ thuộcvào việc chọn phương pháp đúng. Trong bài viết này, chúng tôi tập trunglàm rõ phương pháp giảng dạy bám sát đối tượng người học.

Mở đầu

Hiện nay, có khá nhiều bài báo, thamluận đã đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và đổi mớiphương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác- Lênin nói riêng. Ví dụ như: Đổi mớiphương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính chủđộng, độc lập và sáng tạo của người học; giảm thuyết trình, tăngtrao đổi, thảo luận. Từ đặc điểm của triết học là môn học có tính trừutượng cao, theo chúng tôi, để đổi mới phương pháp giảng dạy, trước mắt cần tậptrung kết hợp phương phápthuyết trình với các phương pháp tích cực khác, như nêu vấn đề, thảo luận theo nhóm, hỏi đáp… kếthợp với sử dụng các phương tiện hiện đại. Phương pháp giảng dạy hỗ trợcho phương pháp thuyết trình mà chúng ta thường sử dụng là chọn những nội dunggợi mở, nêu vấn đề, định hướng người học suy nghĩ và tự mình giải quyết vấn đề.Phương pháp này có ý nghĩa kích thích tính tích cực, chủ động, sáng tạo, độc lậpsuy nghĩ của người học; tạo ra bầu không khí sôi nổi, dân chủ trong học tập, hướngngười học tăng cường hiểu biết, làm cho quá trình tiếp thu tri thức của họ trởthành quá trình tự giác.

Ngoài nhữngphương pháp nêu trên, theo tôi nghĩ, cần phải bổ sung thêm một phương pháp vàcần chú trọng, quan tâm đến nó. Đó là phương pháp: dạy học phải phù hợp với đốitượng người học. Giảng dạy cần bám sát đối tượng người học. Ví dụ: giảng dạymôn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin 1” cho sinh viên các ngànhToán, Hóa, Kế toán, Mầm non, Ngữ văn…cần phải bám sát đối tượng người học.

Nội dung

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của phương phápgiảng dạy cần bám sát đối tượng người học

- Thứ nhất:Phương pháp giảng dạy đúng với đối tượng sinh viên là yếu tố rất quan trọngnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy. Vì vậy, cải tiến (hay đổi mới)phương pháp giảng dạy luôn phải xem xét đến đối tượng sinh viên của từng lớp cụthể. Người dạy còn phải xét đến tiêu chí rất quan trọng đó là đối tượng họctrực tiếp.

- Thứ hai:Đặc trưng của môn học này là trừu tượng. Dó đó, cần phải níu kéo cái trừu tượngcủa môn học này về với cuộc sống. Nếu chúng ta chỉ trình bày lý thuyết đơnthuần sẽ khiến cho bài học trở nên nhàm chán, sinh viên không thể hiểu và nắmbắt vấn đề. Nếu chúng ta biết gắn kết những kiến thức chung, trừu tượng này vớinhững ví dụ cụ thể, phù hợp với chuyên ngành học tập của các em sẽ làm cho bàihọc trở nên dễ hiểu. Quá trình thẩm thấu kiến thức sẽ trở nên nhanh chóng,thuận lợi hơn.

- Thứ ba: Giảngdạy bám sát chuyên ngành giúp các em nắm vững chuyên  ngành hơn. “Dạy những gì người học cần, khôngdạy những gì giáo viên có”. Hơn nữa sinh viên có cái đam mê chuyên ngành củanó. Việc lựa chọn chuyên ngành để học một phần xuất phát từ đam mê của các em.Sinh viên luôn có khát vọng chiếm lĩnh tri thức, hoàn thiện nhân cách. Do vậy,dạy Nguyên lý gắn liền với cái mà các em đam mê sẽ làm cho các em có được sựhứng thú, kích thích tính đam mê và khả năng sáng tạo.

2. Một số ví dụ cụ thể minh chứng cho phương phápgiảng dạy bám sát đối tượng người học.

Vì khối lượngkiến thức của môn học này rất rộng. Dó đó, ở đây, xin được gói gọn trong 3 quyluật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Bởi vì tính bao quát của ba quy luậtnày mà cần phải ứng dụng lý luận này vào chuyên nghành của sinh viên. Hướng chosinh viên có phương pháp tư duy triết học đúng đắn khách quan và toàn diện,nâng cao hiệu suất học tập.  Đối với sinhviên thì tư duy biện chứng là tiền đề đầu tiên của việc tiếp thu kiến thứcchuyên nghành. Cụ thể chúng tôi làm rõ bằng ví dụ sau: Giảng dạy 3 quy luật cơbản của phép biện chứng duy vật cho sinh viên cho sinh viên các ngành sư phạmhóa học.

Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượngthành những thay đổi về chất và ngược lại

Trước hết ta tìm hiểu các khái niệm:

Chất: dùng đểchỉ tính quy định khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhấthữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác. VD: Chất củanước là sự kết hợp hóa học giữa Hyđrô và oxi, chất lỏng, không màu, không vị,uống được.

Lượng: dùng để chỉ tính quy định khách quan, vốn cócủa sự vật, hiện tượng về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quymô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển củacác sự vật.

Ví dụ: Trong hóa học,trong những dạng cụ thể của vật chất luôn tồn tại lượng như: nhiệt độ, áp suất,thể tích, cấu trúc mạng, cách sắp xếp số E P N trong nguyên tử cũng như sốlượng của chúng.

Độ: chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữachất và lượng, là khoảng giới hạn mà ở đó sự thay đổi về lượng chưa làm thayđổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng. Ví dụ: Đối với nước khoảng giớihạn từ 00C cho đến 1000C là Độ. Trong khoảng giớihạn đó nước vẫn ở trạng thái lỏng, chưa chuyển sang trạng thái hơi.

Điểm nút: là điểm giới hạn mà ở đó sự thay đổi về lượng đãdẫn tới sự thay đổi về chất.  Bước nhảy: Chính là quá trình thay đổivề chất, là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiệntượng.Ví dụ: Nước đun sôi đến 1000C sẽ biến thành hơi, Oxi đạttới  -1830C thì sẽ chuyển từtrạng thái lỏng sang trạng thái khí, thêm một nguyên tử 0 vào 1 nguyên tử 02  trở thành 03, thêm 1 notron trongđồng vị H1 thì đồng vị H1 trở thành đồng vị H2

Ăng ghen nóirằng: “ Chúng ta có thể rút ra trong giới tự nhiên và xã hội loài người hàngtrăm sự việc tương tự như thế để chứng minh cho quy luật này”. Trong hóa học,quy luật chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất vàngược lại biểu hiện rất rõ. Ví dụ: Một thanh sắt nguyên chất để ngoài không khíẩm thì quá trình tác dụng giữa nó với không khí ẩm diễn ra không ngừng nhưngchỉ khi nào phần lớn sắt nguyên chất đã bị oxi hóa thì khi đó thanh sắt nguyênchất biến thành thanh sắt rỉ. Lúc này lượng biến đổi đã kéo theo chất biến đổi.

Quy luậtchuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, giải thíchcách thức phát triển của sự vật. Biết được quy luật này chúng ta có thể ứngdụng vào thực tiễn, muốn có sự thay đổi về chất thì lượng cần phải được tácđộng tới điểm nút nhất định.

          Quy luậtthống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Đây chính làquy luật hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Nó chỉ rõ nguồn gốc của vận độngvà phát triển bắt nguồn từ sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau giữacác mặt đối lập.

Để làm rõ vấn đề ta làm rõ các khái niệm: .

Mặt đối lập: dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính,những khuynh hướng  vận động trái ngượcnhau trong một chỉnh thể.

Thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ,ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt nàylấy mặt kia làm tiền đề tồn tại. Ví dụ: Phần tử của muối ăn Nacl, Na+có tính hút e, Cl- có tính nhường e, chính sự đối lập này mà 2 ionNa+ và Cl-  có thểkết hợp với nhau một cách bền vững. Đây chính là tiền đề tồn tại của 2 ion Cl- và Na+, nếu không có Na+ thì  Cl-  sẽ kết hợp với chất khác hoặc không có Cl-thì Na+  cũng sẽ kết hợp vớichất khác.

Đấu tranh của các mặt đối lập:  dùng để chỉ khuynh hướngtác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập. Ví dụ : trongNaCl   Na+  có xu hướng đẩy e về phía Cl-  để biến thành Na, còn Cl-   thì lại muốn lấy đi e của Na+   để biến thành Cl .

Vậy là cácmặt đối lập luôn bài trừ lẫn nhau nhưng lại tồn tại thống nhất hữu cơ với nhau,cả Na và Cl đều tồn tại trong một phân tử muối NaCl  và nhờ lực hút giữa hai điện tích trái dấu màchúng tồn tại bền vững  khó có thể bịthay đổi. Muối ăn NaCl, không phải tự nhiên đã có mà phải có Na rồi có Cl tiếpđến là phản ứng giữa chúng.

Mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh vàchuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sựvật, hiện tượng với nhau.

VD: Trongphản ứng NaOH + HCl     "        NaCl +H2 O

Mâu thuẫn bên trong làmâu thuẫn trong chính bản thân NaOH và HCl, ở NaOH, Na+ là ion  kim loại mạnh OH- là anion tạobởi phi kim mạnh vậy nên e bị hút lệch về phía OH-  dẫn tới tính bazơ của NaOH, ở HCl thì ngượclại H+ là ion hút e yếu còn Cl- tạo bởi phi kim mạnh,bởi vậy e bị lệch về phía Cl- sinh ra tính axit của HCl. Từ mâuthuẫn bên trong lại sinh ra mâu thuẫn bên ngoài, cả hai chất đều phân li mạnhtrong nước khi  H+  gặp OH- trong dung dịch sẽ tạo ranước, một chất điện li yếu,cứ lần lượt phân li và tạo ra nước như vậy phản ứngxảy ra hoàn toàn cho tới khi cả hai chất phản ứng hết hoặc  một trong hai chất hết.

Trong hóa họcmâu thuẫn chính là sự đấu tranh của các mặt đối lập trong những dạng cụ thể củavật chất, trong hợp chất, trong đơn chất, trong lớp e, trong nhân… Tất cả chúngbên trong đều có mâu thuẫn, nhờ đó mà các dạng cụ thể của vật chất  tồn tại và phát triển được.  Mâu thuẫn và biểu hiện của nó rất đa dạng vìvậy thế giới tự nhiên cũng phong phú đa dạng. Khi tìm hiểu mâu thuẫn là lúc tatrả lời câu hỏi do đâu mà vật có tính chất như vậy, do đâu mà vật có chiềuhướng vận động và phát triển đó mà không phải là khác.

Quy luật phủ định của phủ định

Trong phạmtrù Hóa Học thì phủ định là quá trình thay đổi chất. Chất mới ra đời một thờigian bởi thế giới bên ngoài luôn thay đổi nên xuất hiện các mâu thuẫn mới giữachất đó với môi trường dẫn tới chất biến đổi tạo ra chất mới. Quá trình đó lặpđi lặp lại và cứ tiếp diễn mãi. Chất này phủ định chất kia thì nó cũng sẽ bịphủ định bởi chất khác vấn đề ở đây chính là sự hợp lý tương đối của nó với môitrường như thế nào. Phủ định luôn được lặp lại nhưng dưới hình thức cao hơn vàluôn thay đổi.Ví dụ: Nhôm oxit Al2O3 để ngoài môi trườngban đầu nó chưa bị biến đổi nhưng nếu sau một thời gian môi trường xuất hiện OH- thì Al2O3 trở thành Al(OH)3.

Phủ định biệnchứng có tính đa dạng nhiều vẻ nhưng đều có đặc điểm: phủ định bên trong kháchquan tự thân sự vật phủ định không phụ thuộc vào ý thức con người. Ví dụ: sựhình thành lớp vỏ trái đất: Trước hết vỏ trái đất do khối lỏng nguội tạo thànhrồi vở ra từng mảng vì tác dụng của đại dương, của khí tượng, vì tác động hóahọc, của không khí và từng mảnh vụn đó lắng xuống đáy biển đọng thành từng lớp.Đáy biển có những bộ phận nổi lên khỏi mặt biển, và do đó một lần nữa có nhiềubộ phận của tầng khoáng chất lắng xuống lần đầu tiên ấy chịu tác động của mưacủa bốn mùa thay đổi, của oxi và của axit cacbonich trong không khí; các khốiđá nóng chảy từ lòng đất tuôn ra qua các tầng vỉa rồi sau đó nguội đi và chịutác động như thế. Như vậy là trong hàng triệu thế kỷ nhiều lớp mới không ngừnghình thành rồi phá hủy một phần lớn và lại góp phần vào việc tạo ra nhiều lớpmới. Nhưng kết quả của quá trình đó rất tích cực, tạo ra một lớp đất được đánhtơi chứa nhiều thành phần hóa học để cho trái đất ngày nay đa dạng và trù phú.

Sự vật trongquá trình phụ định cái  mới ra đời trêncở sở cái cũ, trở lại ví dụ trên số Protron, Notron, Electron của chì đều là từcủa U238. Chất này biến thành chất kia trên cơ sở thừa hưởng nhân tốtạo thành  chất cũ nhưng trên cơ sở lượcbỏ thêm bớt hay thay đổi vị trí mà thôi. Quá trình phát triển của sự vật cónhiều lần phủ định trong quá trình đó có những lúc trạng thái mới xuất hiện lặplại cái cũ nhưng ở trình độ cao hơn.

Kết luận

Phương pháp giảng dạy sátthực với đối tượng người học luôn là yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng giảngdạy. Vì vậy, cải tiến (hay đổi mới) phương pháp giảng dạy luôn phải xem xét đếnđối tượng sinh viên của từng lớp cụ thể. Mặt khác, trong khi áp dụng nhữngphương pháp mới thì không nên “phủ nhận sạch trơn” phương pháp truyền thống.Cái gì ra đời và tồn tại lâu đời đều có lý do khách quan và có những điều màthế hệ sau cần kế thừa. 

Để thực hiệnđược một bài giảng hay là vấn đề không đơn giản, nó đòi hỏi người giáo viên cótrình độ,  kinh nghiệm và tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục. Phương phápgiáo dục cũng không phải là những nguyên lý có sẵn, có tính chất kinh điển, bấtbiến mà là kết quả của sự sáng tạo, thay đổi không ngừng. Đối với phương phápmà chúng tôi nêu ra: dạy học phải phù hợp với đối tượng người học đòi hỏi giảngviên phải tìm hiểu sâu hơn các chuyên ngành khác. Để làm được điều đó ngườigiảng viên cần có một quá trình nghiên cứu, học tập nghiên túc, miệt mài. Quanđiểm của chúng tôi là vừa dạy vừa học, vừa giảng bài cho sinh viên vừa học tậpở sinh viên.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, Bộ GD & ĐT, NXB Chính trị Quốcgia Hà Nội, 2009.

2. C.Mác và P.Ăngghentoàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

 

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAOĐẲNG HIỆN NAY

ThS. Phan Thị Thu Hà

Tổ Chính trị và Phápluật

Tóm tắt

Thực trạng dạy và học các môn Lý luận chính trị theo học chếtín chỉ trong những năm vừa qua, bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn nhiềuvấn đề bất cập cần được nghiên cứu, khắc phục. Bài viết này nhằm chia sẻ một sốthông tin về thực trạng dạy và học các môn Lý luận chính trị cũng như đưa ramột số giải pháp mang tính định hướng để nâng cao chất lượng dạy học bộ mônnày.

Mở đầu

Ngày 18-9-2008, Bộ Giáodục và Đào tạo đã ra quyết định số 52/2008/QĐ - BGDĐT về việc ban hành các mônlý luận chính trị (LLCT) trình độ đại học, cao đẳng dùng cho sinh viên (SV)khối không chuyên ngành Mác-Lênin. Theo đó chương trình gồm 3 môn: Những nguyênlý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin (5 tín chỉ), Tư tưởng Hồ Chí Minh (2 tín chỉ)và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam ( 3 tín chỉ). Sau hơn 5 nămthực hiện đổi mới việc dạy và học các môn LLCT theo học chế tín chỉ ở trườngđại học, cao đẳng, đến nay ngoài những thành công bước đầu đã nảy sinh nhiềuvấn đề mới cần nghiên cứu, tìm cách khắc phục, giải quyết nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả dạy và học.

Nội dung

1. Thực trạng dạy và học các môn LLCT ở đại học, cao đẳng

1.1. Ưu điểm và hạn chế của chương trình đào tạo các môn LLCT

Xét một cách tổng thể,chương trình đào tạo các môn LLCT ở các trường đại học, cao đẳng hiện hành đãđảm bảo tính khoa học, tính chính trị và tính Đảng sâu sắc. Nội dung chươngtrình bám sát tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước, phản ánh được thực tiễnđời sống kinh tế - xã hội của đất nước, có chú ý đến việc giáo dục chính trị tưtưởng cho SV. Về cơ bản chương trình được xây dựng phù hợp với trình độ nhậnthức của SV đại học, cao đẳng các khối không chuyên ngành LLCT.

Tuy nhiên bên cạnh nhữngưu điểm cơ bản thì nội dung, chương trình các môn LLCT ở đại học, cao đẳng hiệnnay cũng bộc lộ nhiều thiếu sót, hạn chế. Chương trình hiện hành có sự quá tảivề nội dung. So sánh nội dung của Phần thứ nhất: Thế giới quan, phương phápluận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin được giảng dạy thời lượng 2 tín chỉ,hiện nay với nội dung môn Triết học Mác-Lênin trước đây thì không có sự thayđổi nhiều. Chương trình mới chỉ khác với chương trình cũ là bỏ bỏ bớt mộtchương giới thiệu khái quát về lịch sử triết học. Thực chất thì chương trình mớigần như vẫn bao gồm toàn bộ nội dung chương trình môn Triết học Mác-Lênin trướcđây. Trong khi đó, thời gian giảng dạy chương trình mới bằng một nữa so vớichương trình cũ. Điều này đã làm cho người dạy và người học đều lúng túng, chịunhiều sức ép khi tiếp cận nội dung chương trình môn học. Nội dung chương trìnhđược cắt gép bất hợp lý. Cụ thể, môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin”thực chất là kết hợp nội dung của ba môn Triết học, Mác-Lênin, Kinh tế chínhtrị Mác-Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Môn Đường lối cách mạng Đảng củaĐảng cộng sản Việt Namlà sự kết hợp một số nội dung của môn Lịch sử Đảng và Kinh tế chính trị Mác-Lênintrước đây. Trong khi từ trước tới nay, đội ngũ giảng viên (GV) chỉ được đào tạotheo một chuyên ngành cụ thể như: Triết học hoặc Kinh tế chính trị hoặc Lịch sửĐảng… Nhiều GV phải dạy nhiều nội dung hoàn toàn xa lạ với chuyên ngành mà họđược đào tạo. Những sai sót lúng túng về chuyên môn, hiện được đọc chép vì thếđã, đang và sẽ còn xuất hiện ở nhiều GV môn LLCT. Điều này ảnh hưởng rất lớnđến uy tín và chất lượng dạy học bộ môn.

1.2. Về đổi mới phương pháp (ĐMPP) dạy học

Trong những năm học vừaqua, ở nhiều trường đại học, cao đẳng các môn LLCT từng được ghép nhóm – lớp,mỗi nhóm, lớp có từ 90 – 150 SV. Vì lớp đông nên việc ĐMPP nhằm nâng cao chấtlượng dạy học cho SV là một thách thức rất lớn đối với các GV môn LLCT. Ở nhữnglớp đông, việc áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướngphát huy tính tích cực của người học như thảo luận nhóm, nêu vấn đề, tổ chứccác hoạt động semiar là rất khó khả thi và hiệu quả không cao. Nhiều GV rất đầutư ĐMPP dạy học nhưng tỏ ra bất lực trước các lớp đông. Vì thế phương phápthuyết trình vẫn là phương pháp dạy học được sử dụng phổ biến ở các lớp họcnày. Sự quá tải của chương trình, sự biến động về nội dung và tình trạng lớpđông đang là thách thức không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng dạy và học cácmôn LLCT trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở nhiều trường đại học, cao đẳng.

2. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học các mônLLCT ở đại học, cao đẳng hiện nay

Đểnâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học các môn LLCT trong đào tạo theo học chếtín chỉ ở đại học, cao đẳng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:

- Bộ Giáo dục và Đào tạocần có hướng dẫn thực hiện phân phối chương trình cụ thể dành cho các môn LLCT.Sau khi chương trình các môn LLCT mới được áp dụng từ năm học 2008-2009, cácgiáo trình, tài liệu hướng dẫn học tập, tài liệu hỏi đáp cho từng môn học đãđược biên soạn và phục vụ hiệu quả cho việc giảng dạy và học tập các môn họcnày. Tuy nhiên, sau hơn 5 năm áp dụng nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn thựchiện phân phối chương trình cụ thể dành cho từng môn học. Điều này khiến cho cảGV bộ môn và SV lúng túng trong quá trình giảng dạy và học tập. Việc đưa raphân phối chương trình cụ thể cho từng môn học kèm theo hướng dẫn thực hiện sẽgiúp GV bộ môn xác định rõ mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy cho từngbài. Bên cạnh đó GV sẽ có cơ sở để giao nhiệm vụ và hướng dẫn SV tự học, tự nghiêncứu một cách hiệu quả hơn.

- Đổi mới cách tiếp cận,khai thác nội dung chương trình, giáo trình. Trong khi chưa có hướng dẫn, phânphối chương trình cụ thể, mỗi khoa, bộ môn LLCT cần chủ động xây dựng đề cươngbài giảng trên cơ sở chương trình và giáo trình do Bộ GD&ĐT cung cấp. Vớitừng môn học, các khoa, bộ môn, tổ chuyên môn cần căn cứ vào đặc thù và yêu cầucủa trường, ngành đào tạo để thảo luận và thống nhất lựa chọn những nội dung cơbản, trọng tâm cần giảng dạy trên lớp, những nội dung hướng dẫn để SV tự nghiêncứu, những nội dung Seminar trên lớp… Trên cơ sở đó thống nhất nội dung và hìnhthức kiểm tra, đánh giá. Việc biên soạn bài giảng phù hợp với đặc thù của từngtrường, từng khối ngành sẽ góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũGV, giúp cho nội dung môn học bám sát với đặc thù và thực tiễn của nhà trường,địa phương, ngành học, đồng thời sẽ cung cấp cho SV những tài kiệu để phục vụcho việc tự học được hiệu quả hơn.

- Các trường đại học, caođẳng cần hạn chế sắp xếp bố trí lớp đông cần phải quy định số lượng SV tối đacho một lớp đông, phải đảm bảo trang bị đủ các phương tiện dạy học hiện đại chophòng học đông SV.

- Trong quá trình dạyhọc, GV cần có nhiều hình thức, biện pháp khuyến khích SV tự học, tự nghiêncứu. Sự quá tải về nội dung của chương trình sẽ được khắc phục khi GV lựa chọnnhững nội dung phù hợp để hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu. Để khuyến khíchSV tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học tập các môn LLCT, GV bộ môn cầnchủ động giao bài tập về nhà cho SV. Việc chuẩn bị các bài tập ở nhà để trìnhbày trước lớp sẽ kích thích khả năng tìm tòi, phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo và hứng thú học tập của SV. Tăng cường khả năng tự học của SV, một mặtgóp phần giảm tải được áp lực về nội dung chương trình cho người dạy và ngườihọc trên lớp, mặt khác còn góp phần phát huy được tính tích cực, chủ động, sángtạo của SV trong việc tiếp thu những tri thức của các môn LLCT.

- Tăng cường ứng dụngcông nghệ thông tin (NCTT) trong dạy học. Các môn LLCT với hệ thống tri thức mangtính tổng hợp, tính trừu tượng, tính thời sự và tính thực tiễn rất cao nênnguồn tư liệu có thể khai thác và đưa vào phục vụ giảng dạy như: sách, báo, sốliệu, bản đồ, sơ đồ, hình ảnh, âm thanh, phim tư liệu.. rất phong phú, nhất làvới các môn học như Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tưtưởng Hồ Chí Minh. Việc ứng dụng CNTT trong dạy học các môn LLCT bước đầu khắcphục được tính đơn điệu nhàm chán của môn học, thúc đẩy việc ĐMPP giảng dạy vàhọc tập các môn LLCT.

Kết luận

Nâng cao chất lượng dạyvà học các môn LLCT theo học chế tín chỉ ở trường đại học, cao đẳng hiện nay làhết sức cần thiết, nhưng ngoài việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, mộtvấn đề quan trọng cần phải có những chính sách ưu tiên cho các GV LLCT. Bởi vì,việc giảng dạy các môn LLCT không chỉ trang bị kiến thức cho SV như các mônkhoa học khác mà còn có nhiệm vụ định hướng tư tưởng, giáo dục phẩm chất chínhtrị, đạo đức cách mạng… cho SV. Vấn đề này cần nhanh chóng thực hiện thì mớimong đạt được mục tiêu dạy chữ - dạy người hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ GD&ĐT, Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng theo hệ thống tín chỉ ban hành kèmtheo QĐ số 43/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007.

2. Trần Ngọc, Bùi Khắc Sơn, Đào tạo theo hệ thống tín chỉ khó khăn và thuậnlợi, Kỷ yếu hội thảo khoa học Đào tạo theo học chế tín chỉ và chia sẽ, hợptác giữa các trường ĐH, CĐ địa phương, Trường Đại học Quảng Nam, 2012.

3. Hoàng Công Tràm, Đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường ĐHSPHuế sau ba năm nhìn lại, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Mô hình và phương thứcđào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, NXB Đại học Huế, 2012.

 

 

 

 

 

 

 

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀOGIẢNG DẠY NỘI DUNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ CỦA PHẦN NHỮNG NGUYÊN LÝCƠ BẢN CỦA CHỦNGHĨA MÁC - LÊNIN 2

TS.Trần Thị Sáu

Tổ Chính trị và Pháp luật

Tóm tắt

Đổi mới căn bản và toàn diện nềngiáo dục nhằm phát triểnmạnh mẽ nền giáo dục Việt Nam làmột trong những nội dung quan trọng được quán triệt tại Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ XI và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8,Ban chấp hành Trung ương khóa XI. Đểtriển khai có hiệu quả chủ trương đổi mới, giải pháp quan trọng là đổi mớiphương pháp dạy học, trong đó đổi mới phương pháp dạy học môn Những nguyên lýcơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin 2 được đặc biệt chú trọng.

Mở đầu

Chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam chohành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh là hoạt động quan trọng. Tuy vậy làm thế nào để để nâng caochất lượng giảng dạy các môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin?Đó là vấn đề đã được đề cập đến từ rất lâu song vẫn chưa được giải quyết mộtcách thấu đáo cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Tình trạng giảng dạy môn Nhữngnguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và phần kinh tế chính trị nói riêngvẫn còn nặng về lối truyền thụ một chiều, sinh viên vẫn chưa có hứng thú họctập, chất lượng học tập không cao. Với mong muốn góp một phần vào việc nâng caochất lượng dạy học, bài viết đưa ra những định hướng cơ bản nhằm đổi mới, nângcao chất lượng dạy học Những nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin 2, phần kinh tếchính trị Mác - Lênin ở Trường Đại học Quảng Bình.

Nội dung

Theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 củaBộ giáo dục và Đào tạo từ năm học 2009 - 2010 các môn khoa học Mác - Lênin đượcxây dựng thành môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin với những kiến thức được tích hợp vàtinh giản so với chương trình trước đây, do vậy việc vận dụng các phương pháptích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học này, đặc biệt phần kiến thứckinh tế chính trị thuộc Những nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin 2 càng trở nên quan trọng. Xuất pháttừ nội dung và điều kiện thực tiễn, việc đổi mới phương pháp giảng dạy phảitheo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của sinh viên(người học); Bồi dưỡng phương pháp tự học cho sinh viên; rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn cho sinh viên; tác động đến tư tưởng, tình cảm,xây dựng cho người học niềm tin, niềm vui hứng thú học tập để hành trang vàođời của họ có đủ đức và tài; khai thác được động lực học tập trong bản thân ngườihọc để phát triển chính họ; coi trọng lợi ích nhu cầu của cá nhân người học đảmbảo cho họ thích ứng với đời sống xã hội sau khi ra trường.

Theo nguyên lý dạy họckhông có phương pháp giảng dạy nào là tối ưu cho tất cả môn học, cho tất cảtiết học nhưng chúng ta có thể kết hợp một cách sáng tạo trên cơ sở mục tiêumôn học, tiết học, đối tượng người học để xây dựng phương pháp giảng dạy phùhợp để trong mỗi tiết học, sinh viên được suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn,hoạt động nhiều hơn và lĩnh hội, chiếm lĩnh được nhiều hơn kiến thức của mônhọc và có khả năng trả lời cũng như ứng xử một cách tốt nhất những vấn đề màthực tiễn đặt ra. Do vậy trong quá trình giảng dạy cần đổi mới và ứng dụng cácphương pháp giảng dạy tích cực theo những định hướng cơ bản sau:

1. Tích cực hóa phương pháp thuyếttrình trong giảng dạy

Trong thực tiễn, nhiều nămdài, trong giảng dạy nội dung kinh tế chính trị Mác - Lênin, việc chuyển tảikiến thức đến sinh viên thường áp dụng phương pháp giảng dạy theo phương pháptruyền thống - phương pháp thuyết trình.

Phương pháp thuyết trìnhlà phương pháp trong đó giảng viên sử dụng các thuyết trình để trình bày mộtvấn đề khoa học nào đó, còn sinh viên theo dõi để hiểu và nhớ. Mục đích củadiễn giảng là truyền đạt thông tin khoa học, kích thích hứng thú nhận thức, đưasinh viên vào thế giới khoa học, hình thành ở họ thế giới quan và phương pháp tưduy khoa học. Trong quá trình diễn giảng phải sử dụng các phương pháp như phântích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, so sánh, chứng minh... .Bài diễn giảngphải quán triệt các yêu cầu như phải có nội dung hấp dẫn, có nhiều thông tinmới đối với người học, phải đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ, trình bày phải cótính lôgíc, bài giảng phải kích thích được tư duy, biết cách nêu vấn đề, phùhợp với quy luật nhận thức, đảm bảo tính sư phạm và sinh viên có thể ghi chép được.Phần Kinh tế chính trị Mác Lênin có nhiều nội dung khó, trừu tượng, nhiều kiếnthức đòi hỏi sự phân tích, diễn giải nhằm giúp sinh viên viên nắm được vấn đề.Do vậy trong những trường hợp nhất định việc sử dụng phương pháp thuyết trìnhlà cần thiết. Để tích cực hóa phương pháp thuyết trình, thu hút sự chú ý củangười học giảng viên cần tìm ra những cách trình bày hấp dẫn, phát huy tối đaưu thế của phương pháp này. Theo chúng tôi nên tiến hành một số hình thức sau:

+ Thuyết trình theo kiểuthuật chuyện: Hình thức này đòi hỏi giảng viên trong quá trình giảng dạy kinhtế chính trị phải đưa ra những biểu tượng cụ thể về những sự kiện và những hiệntượng có thể phản ánh được những phạm trù và những qui luật kinh tế. Giảng viêndựa vào những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, câu chuyện hoặc những tácphẩm văn học, phim ảnh là tư liệu để khái quát, xây dựng lý luận, rút ra kếtluận... Ví dụ qua phim "Nô tỳ Izôra", phim "Cô chủ nhỏ" củaBrazin, phim "Chị Dậu" của Việt Nam giảng viên có thể phân tích làmcho sinh viên thấy rõ hơn về những đặc trưng của nền kinh tế tự nhiên, sự cưỡngbức siêu kinh tế, quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, phong kiến... hoặc qua phim"Cuốn theo chiều gió", "Trở về Eđen" minh chứng  tính cạnh tranh gay gắt và đa dạng của nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa, hoạt động của loại hình công ty cổ phần, thị trườngchứng khoán, sự vận động của tư bản giả...Như vậy, những sự kiện, tài liệu, câuchuyện...được sử dụng dưới dạng thuật chuyện có thể dùng trong tiết học kinh tếchính trị như một hình thức thuyết trình sinh động, như một phương thức minhhọa các quá trình kinh tế phức tạp.

+ Thuyết trình - mô tả,phân tích: Thuyết trình dưới hình thức mô tả có phân tích là chỉ ra những đặcđiểm, khía cạnh, các mặt riêng biệt của các hiện tượng, các quá trình kinh tếcùng những mối liên hệ của chúng. Trên cơ sở đó đưa ra những chứng cứ logic,những lập luận chặt chẽ để rút ra bản chất của chúng. Việc mô tả, phân tích tronggiảng dạy kinh tế chính trị Mác Lênin có thể được thực hiện bằng nhiều hìnhthức khác nhau như công thức, sơ đồ, mô hình hóa, số liệu thống kê...

+ Thuyết trình dưới hìnhthức "luận chiến" - phê phán. Nội dung Kinh tế chính trị Mác Lêninnghiên cứu và vạch ra các vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế củacác giai cấp và mọi người trong xã hội. Giảng viên phải bám sát cơ sở lý luận,cơ sở thực tiễn để luận giải, chứng minh tính sai lầm, thiếu thuyết phục củanhững quan điểm nhất định nào đó trong cuộc sống. Ví dụ hiện nay có nhiều quanđiểm cho rằng chính máy móc mới là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Để bác bỏ,phê phán quan điểm sai lầm này giảng viên cần phân tích nguồn gốc của giá trịthặng dư, vai trò của tư bản khả biến, vai trò của sức lao động trong quá trìnhtạo ra giá trị và giá trị thặng dư đồng thời lấy dẫn chứng thực tế để làm sángtỏ vấn đề cả mặt lý thuyết lẫn thực tiễn để khẳng định chính sức lao động củangười công nhân, hay tư bản khả biến mới là là nguồn gốc của giá trị thặng dưcòn máy móc, thiết bị chỉ là điều kiện cho quá trình tạo nên giá trị thặng dư.Làm tốt điều này sẽ làm bài giảng hấp dẫn, cuốn hút được người nghe.

2. Vận dụng và hoàn thiện phương phápnêu vấn đề

Phương pháp giảng dạy nêu vấn đề là phương pháp đặtsinh viên trước một nhiệm vụ nhận thức và kích thích sinh viên tự lực giảiquyết nhiệm vụ nhận thức đó một cách sáng tạo. Để vận dụng có hiệuquả cần đổi mới phương pháp nêu vấn đề theo các hướng :

Một là, trong quá trình trình bày bài giảng giảng viên có thể diễn đạt vấn đềdưới dạng nghi vấn, gợi mở hoặc đưa ra những câu hỏi để gây tình huống lôi cuốnsự chú ý của sinh viên. Ví dụ: Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hộicó 2 hình thức tổ chức kinh tế rõ rệt là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa. Vậy,thế nào là kinh tế tự nhiên? Đặc trưng của kinh tế tự nhiên? Thế nào là kinh tếhàng hóa? Kinh tế hàng hóa ra đời dựa trên những điều kiện nào?...

Hai là, giảng viên trình bày bài giảng theo phương pháp nêu vấn đề nhưng theocách thức giải quyết phần khó, những phần còn lại tổ chức cho sinh viên tự lựcgiải quyết trên cơ sở những kiến thức đã biết. Ví dụ: Sau khi giới thiệu lịchsử ra đời và các hình thái giá trị chúng ta nêu vấn đề: Bản chất tiền tệ là gì?Hoặc khi dạy học phần chức năng phương tiện cất trữ giảng viên có thể nêu câuhỏi: Tiền gửi vào ngân hàng có phải thực hiện chức năng phương tiện cất trữkhông? Bằng những kiến thức lý luận và thực tiễn sinh viên sẽ tìm tòi, suy nghĩnhằm giải quyết vấn đề đươck đặt ra.

Ba là, nêu vấn đề toàn phần. Đây là hình thức giảng viên tổ chức cho sinh viênnghiên cứu bài giảng một cách sáng tạo. Giảng viên nêu vấn đề cùng với hệ thốngcâu hỏi chính, câu hỏi phụ, gợi mở...để dẫn dắt sinh viên độc lập giải quyếtvấn đề và kết luận. Phương thức này đảm bảo phát huy tối đa khả năng tư duy củasinh viên, đặc biệt là tư duy biện chứng, kích thích niềm say mê khám phá. Tuynhiên, để thực hiện thành công hình thức này đòi hỏi phải chuẩn bị chu đáo vềnội dung lẫn phương pháp tiến hành, sinh viên phải có năng lực nhận thức khá,đồng đều, có ý thức chủ động, tự giác trong học tập.

Bốn là, có thể tiến hành nêu vấn đề có tính giả thuyết. Giảng viên đưa vào bàimột số giả thuyết hoặc quan điểm có tính mâu thuẫn với vấn đề đang nghiên cứu.Kiểu nêu vấn đề này đòi hỏi sinh viên phải lựa chọn quan điểm nào đúng và cólập luận vững chắc về sự lựa chọn của mình. Đồng thời sinh viên phải phê phánchính xác, khách quan những quan điểm không đúng đắn, hoạt động này tạo chosinh viên khả năng hùng biện, biết bảo vệ cái đúng, lẽ phải. Ví dụ: Giảng viênđưa ra quan điểm của một số người cho rằng kinh tế của các nước tư bản pháttriển mạnh và vững hơn kinh tế của các nước đi theo con đường XHCN để sinh viênluận giải, chứng minh, phê phán, đấu tranh và bác bỏ.

Năm là, nêu vấn đề có tính so sánh, tổng hợp.Đây là kiểu giảng dạy nêu vấn đề gắn này có ưu thế rõ rệt, thông qua các sốliệu, dữ kiện thống kê cho phép thể hiện một cách ngắn gọn quá trình và hiệntượng kinh tế- xã hội. Mặt khác, nó giúp làm tăng tính chính xác, tính thuyếtphục của vấn đề đồng tạo điều kiện rèn luyện cho sinh viên biết phân tích, khaithác những tri thức thực tiễn.

Phương pháp giảng dạy nêuvấn đề tăng cường vận dụng hệ thống các phương pháp nhận thức khoa học vào quátrình giáo dục sinh viên. Phương pháp này đòi hỏi giảng viên phải tập trung vàongười học và hoạt động học, lấy sinh viên làm trung tâm. Những tình huống kinhtế chính trị có vấn đề được giảng viên nêu ra trong giờ học phải gây được hứngthú học tập cho sinh viên, kích thích tính tích cực tự lực trong học tập. Chẳnghạn, khi giảng bài: "Sản xuất giá trị thặng dư - Quy luật kinh tế tuyệt đốicủa chủ nghĩa tư bản", giảng viên có thể nêu các tình huống có vấn đề bằngcác câu hỏi như: Tiền có phải là tư bản không? Khi nào thì tiền trở thành tưbản? Tại sao nhà tư bản bóc lột được giá trị thặng dư mà không vi phạm quy luậtgiá trị?... Thông qua thảo luận, trao đổi sinh viên sẽ nhanh chóng lĩnh hội đượckiến thức sâu sắc hơn về các phạm trù như: Tư bản, hàng hóa sức lao động, tưbản bất biến, tư bản khả biến, giá trị thặng dư... và quy luật giá trị thặng dư,quy luật tích lũy tư bản chủ nghĩa... Ở đây, quá trình giảng dạy được thốngnhất với quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của sinh viên.

3. Kết hợp phương pháp nêu vấn đề vớiphương pháp thuyết trình

Trong quá trình giảng dạy nội dung kinh tế chính trị, nếu sửdụng đơn lẻ phương pháp thuyết trình hoặc phương pháp nêu vấn đề, mặc dù là cầnthiết, song hiệu quả và chất lượng giảng dạy và học tập không cao, không thểchuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, nếu không từng bước đổimới. Cách diễn giảng tốt nhất để phát huy tính tích cực tư duy của người học làkết hợp với phương pháp nêu vấn đề. Do vậy, kết hợp phương pháp thuyết trìnhvới phương pháp nêu và giải quyết vấn đề theo hướng giảm thiểu phương pháp diễngiảng, ưu tiên cho phương pháp nêu và giải quyết vấn đề đang là vấn đề cầnthiết trong các trường Đại học và Cao đẳng hiện nay. Với phương pháp mới này,việc đổi mới chuyển sang mục tiêu trang bị những kiến thức cơ bản nhất, mớinhất, trừu tượng nhất, sau đó hỏi để dạy và học và thích ứng với mục tiêu nàylà phương pháp giảng dạy theo kiểu diễn giải kết hợp vấn đáp hay đối thoại. Từ đólàm cho nội dung vai trò của giảng viên và sinh viên đã có sự thay đổi cơ bản.Trong đó:

+ Đối với giảng viên(người dạy)

Thực hiện sự kết hợp phươngpháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, đòi hỏigiảng viên phải làm việc ở nhà nhiều hơn, vì phải nghiên cứu lý luận sâu hơn,phải am hiểu hoạt động thực tiễn để đưa ra các câu hỏi, các tình huống, để có đápán chuẩn xác và sinh động, phù hợp lý luận và thực tiễn. Tại lớp, giảng viên làngười biết khêu gợi, động viên, biết lĩnh hội các ý kiến phát biểu trả lời củasinh viên và là trọng tài khi đưa ra những kết luận mang tính khoa học. Nhữngvấn đề do giảng viên nêu ra trước sinh viên là những vấn đề mà sinh viên khôngthể giải quyết được chỉ bằng những tri thức đã có ở họ. Nghĩa là ở đây nảy sinhmâu thuẫn giữa yêu cầu mới vừa đặt ra với những cách giải quyết cũ đã biết. Mâuthuẫn đó tạo thành vấn đề đối với người học và đặt người học vào "tìnhhuống có vấn đề" và buộc người học phải động não suy nghĩ để tìm cách giảiquyết dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Ví dụ: Sau khi giảng cho sinh viên hiểuđược thế nào là hàng hoá với những sự liên hệ cụ thể thì giảng viên sẽ đặt câuhỏi: Những hàng hoá đó có những thuộc tính gì? Và khi sinh viên dã biết đượchàng hoá có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng, giảng viên tiếp tụcnêu vấn đề: Tại sao hàng hoá lại có hai thuộc tính đó? Từ đó dẫn dắt sinh viênđi từ kiến thức này đến kiến thức khác và khi vấn đề được giải quyết, được tháogỡ thì kiến thức của người học được nâng lên một trình độ mới cao hơn. Như vậyquá trình giảng viên giảng giải những kiến thức đại cương sau đó nêu vấn đề làquá trình người học đi từ không biết đến biết, từ biết đến biết nhiều, từ nông đếnsâu. Đó là quá trình dạy và học sáng tạo, tích cực: các vấn đề liên tục đượcxuất hiện và được giải quyết. Đó là quá trình "mài sắc" tư duy của ngườihọc.

Tóm lại, việc áp dụng phươngpháp thuyết trình kết hợp nêu vấn đề đòi hỏi giảng viên phải chuẩn bị bài giảngkỹ lưỡng, công phu, phải xử lý tỉ mỉ tài liệu chọn ra để trình bày. Giảng viênphải nắm được thực chất của vấn đề đặt ra và cách giải quyết nó.

+ Đối với sinh viên

Trong quá trình kết hợpphương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề và giải quyết vấn đề sinhviên có thể nêu thêm vấn đề, chuẩn bị trước để trả lời các câu hỏi hoặc cáctình huống giảng viên đặt ra. Để làm được điều đó, sinh viên phải đọc trước tàiliệu, phải quan sát để tiếp cận tình hình thực tiễn trong nước và thế giới, cóthể trao đổi lẫn nhau giữa các bạn trong nhóm học, tích cực tham gia phát biểuý kiến và tranh luận tại lớp.

Có thể nói, thực hiện phươngpháp giảng dạy này làm cho người họcđược hướng dẫn, được khích lệ, được giải phóng, làm tăng tính chủ động,sáng tạo và hứng thú hơn và giảng viên phải làm việc nhiều hơn khi chuẩn bị bàigiảng ở nhà so với phương pháp thuyết trình đơn lẻ, độc thoại trước đây.

4.Phương pháp đối thoại, thảo luận, làm bài tập

Phương pháp này nhằm mục đíchlàm cho sinh viên nắm chắc các kiến thức cơ bản, kích thích tư duy, khơi độngsự suy nghĩ, đưa sinh viên vào các tình huống có vấn đề từ đó rèn luyện kỹ năngphân tích, kỹ năng vận dụng lý luận vào việc thực tiễn. Việc đối thoại, thảoluận có thể được tiến hành giữa thầy giáo và sinh viên hoặc giữa sinh viên vớinhau. Và được thực hiện bằng hệ thống các câu hỏi và câu trả lời. Câu hỏi làmột chuỗi lôgíc để chứng minh hoặc bác bỏ và phải chú ý văn hoá tranh luận. Đểtiến hành phương pháp này, giảng viên phải chuẩn bị kỹ vấn đề từ nội dung, cáchđặt câu hỏi, hướng dẫn tranh luận và phải có kết luận chính xác. Giảng viênphải biết kích thích cả tập thể, thu hút hứng thú mọi người vào tranh luận.

Việc ứng dụng các phươngpháp này trong các trường hợp:

- Sử dụng phương phápthuyết trình gắn với đối thoại trong quá trình chuyển tải kiến thức giữa sinhviên và giảng viên tại lớp quy mô số lượng dưới 60 sinh viên.

- Giảng theo phương phápthuyết trình đối với lớp quy mô lớn trên 60 sinh viên trở lên không tiện đốithoại thì thuyết trình những kiến thức cơ bản sau đó chia nhỏ thảo luận. Có 2cách tổ chức thảo luận:

+ Thảo luận dưới sự điềukhiển của giảng viên;

+ Thảo luận có chỉ địnhsinh viên (ban cán sự lớp) điều khiển, ghi chép phản ánh để thầy giáo bố tríthời gian giải đáp chung.

- Giảng theo phương phápthuyết trình 1 cụm lý thuyết liên quan sau đó tổ chức thảo luận.

Khi giảng dạy phần họcthuyết giá trị và học thuyết giá trị thặng dư giảng viên cần yêu cầu sinh viênlàm bài tập. Việc củng cố kiến thức lý thuyết và kích thích hoạt động tư duythông qua bài tập cũng là phương pháp rất có hiệu quả. Ví dụ khi dạy học phầnchức năng của tiền và trao đổi về qui luật lưu thông tiền tệ khi tiền tệ làm chứcnăng phương tiện thanh toán chúng ta yêu cầu sinh viên làm bài tập như sau:

Khi tìm hiểu về hao phílao động xã hội để sản xuất hàng hoá, giá trị hàng hoá, tỷ suất giá trị thặngdư chúng ta cho sinh viên làm bài tập:

5. Các phương pháp trực quan

Phương pháp trực quan làphương pháp tổ chức dạy học sao cho người học có thể tham gia nhiều giác quanvào quá trình tiếp cận kiến thức trong các tài liệu khoa học.

Sự tham gia nhiều giácquan vào học tập làm cho người học hiểu kĩ, cụ thể, hiểu đúng, nhớ lâu và cókhả năng vận dụng kiến thức một cách dễ dàng.

Trực quan có thể sử dụngcác phương pháp cụ thể như: Phương pháp minh hoạ, phương pháp tổ chức tham quan(các di tích, danh thắng, những điển hình tiên tiến...) v.v....

Dưới đây là những ví dụvề phương pháp minh hoạ:

Thứ nhất: Có thể dùng toán học để minh hoạ,biểu diễn. Ví dụ:

+ Để diễn đạt về lượngkhi so sánh có thể dùng dấu (=, > hoặc <)

+ Để diễn đạt định nghĩa lý thuyết vềtỷ suất lợi nhuận ta có thể dùng công thức để biểu diễn .                                                  m

                                                       P' = ¾¾¾ x 100%

        c + v

Thứ hai: Có thể dùng biểu đồ để minh họa: Vídụ:

 

 

 

 

 


Kết luận: Yêu cầu này là điềukiện đảm bảo cho nền kinh tế hàng hoá vận động và phát triển bình thường haycân đối.

Kết luận

Nắm vững phương pháp vàvận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy nội dung kinh tế chính trịcũng như môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin nhằm nâng cao hiệuquả dạy học là một yêu cầu quan trọng trong các Trường Đại học và Cao đẳng nóichung và Trường Đại học Quảng Bình nói riêng. Chúng ta hy vọng rằng với nổ lựcvà quyết tâm của chúng ta chất lượng dạy và học nội dung kinh tế chính và cácmôn lý luận Mác Lênin nói chung sẽ ngày càng cao.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác Lênin, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội;

2. Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1987),Giáo dục học, Nxb Giáo dục, Hà Nội;

3. Nguyễn Việt Dũng, Vũ Hồng Tiến,Nguyễn Văn Phúc (1999), Phương pháp giảngdạy kinh tế chính trị ở các trường Đại học, Cao đẳng, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨAMÁC-LÊNIN - MỘT VẤN ĐỀ CẦN CHÚ TRỌNG

ThS. Nguyễn Thị Như Nguyệt

Tổ Chính trị và Phápluật

 

Tóm tắt

Bài viết đề cập đến sự cần thiết của việc đổi mới phương pháphọc tập của sinh viên đồng thời đưa ra những hướng dẫn cụ thể nhằm trang bị chocác em phương pháp học tập có hiệu quả đối với môn Những Nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác-Lênin, từ đó biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo,góp phần nâng cao chất lượng dạy – học môn Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin ở các trường cao đẳng, đại học cũng như đào tạo con người mới trongthời đại ngày nay.

Mở đầu

Thế kỷ 21 là thế kỷ củacông nghệ thông tin và truyền thông, kỉ nguyên của sự hội nhập toàn cầu, thờikỳ của nền kinh tế tri thức… Để thích ứng với bối cảnh lịch sử mới, đòi hỏi mọingười ở mọi quốc gia, dân tộc, trong mỗi ngành nghề phải có kiến thức sâu rộng,tư duy khoa học phát triển, nhất là tư duy khái quát và năng lực tự đào tạo.

Hòa mình vào xu thế pháttriển mạnh mẽ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác giáo dục – đàotạo, coi đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước. Điều đó được khẳng định, thể hiện trong nhiều chính sách quan trọngcủa Đảng và Nhà nước ta. Tại Hộinghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “đổi mới căn bản, toàndiện giáo dục và đào tạo”, Đảng ta một lần nữa khẳng định: Tiếptục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học … tập trung dạy cách học, cách nghĩvà tự học, theo phương châm “giảng ít, học nhiều”. Chuyển quá trình đào tạothành quá trình tự đào tạo. Bồi dưỡng khát vọng học tập suốt đời. Đâylà nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trong việc đào tạo ranguồn nhân lực có đủ phẩm chất năng lực, có tư duy độc lập, năng động, tự chủ,sáng tạo, thích ứng với sự biến đổi không ngừng của xã hội.

Để thực hiện được nhiệmvụ đó, trong quá trình dạy học các môn học ở nhà trường nói chung, dạy học mônNhững Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin ở cao đẳng, đại học nói riêng,bên cạnh việc đổi mới chương trình, giáo trình, đổi mới phương pháp giảng dạy,phương pháp kiểm tra – đánh giá, cần phải chú trọng đổi mới, hướng dẫn phươngpháp học tập cho sinh viên theo hướng tích cực nhằm góp phần nâng cao chấtlượng dạy học, chất lượng đào tạo. Bởi phương pháp học tập khoa học chính làcách thức khai thác hiệu quả nhất năng lực của mỗi cá nhân, là động lực chínhcủa quá trình giáo dục – đào tạo.

 

Nội dung

1. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp học tập môn Những nguyênlý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin ở đại học, cao đẳng

Sinh viên của tất cả cáctrường đại học, cao đẳng đều phải làm quen với môn Những Nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là môn học bắt buộc đối với mọi sinh viên năm thứnhất. Tuy nhiên, hầu hết sinh viên không “mặn mà” với môn học này, thậm chí cótâm lí “ngại” học nên kết quả thi không cao, học lại thi lại nhiều, sai lệchtrong tư tưởng, lối sống,… Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó, chúng tôithấy có cả nguyên nhân khách quan lẫn nguyên nhân chủ quan, trong đó không thểkhông nhấn mạnh đến ý thức, thái độ, phương pháp học tập của sinh viên đối vớimôn học:

 - Sinh viên chưa ý thức cao việc tự giác, tíchcực trong học tập môn Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, phổ biếnvẫn là sự thụ động, ỷ lại vào giảng viên, vào tài liệu có sẵn.

- Vì không xác định đúng đắn mục tiêumôn học nên nhiều sinh viên có thái độ thờ ơ, chủ quan, bất cần.

- Hầu hết sinh viên chưa biết cáchhọc, cách nghiên cứu, cách lập kế hoạch hoạt động của môn học.

- Sự trao đổi, học hỏi của sinh viênvới giảng viên bộ môn diễn ra quá ít.

- Ở một số em, sự say sưa chiến thắngkhi mới vượt qua hàng chục ngàn thí sinh khác để vào được đại học đang còntrong tâm tưởng nên tự cho mình quyền “hưởng thụ”, chưa cần phải học gấp.

Bên cạnh đó, tính đặc thù của mônNhững Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là khái quát, trừu tượng caođang đặt ra yêu cầu phải có phương pháp học tập, nghiên cứu phù hợp, khoa họcthì mới có thể khai thác hết giá trị lý luận và giá trị thực tiễn của môn học.

Ngày nay, với quan điểm giáo dục hiệnđại là “phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu” để học tập suốt đời, việc đổimới phương pháp học tập phải được chú trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi đểsinh viên hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết như: kỹ năng tự nhậnthức, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, kỹ nănggiao tiếp, kỹ năng phản biện, tranh luận…

Cùng với những bước khởi động khả thivề đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên thì việc đổi mới phương pháphọc tập của chính sinh viên là một yếu tố quan trọng trong sự thống nhất biệnchứng của quá trình dạy học môn Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênintheo hướng tích cực. Bởi lẽ, nếu thầy tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy màkhông có sự tương tác tích cực trở lại của trò thì việc dạy – học không thể đạthiệu quả.

Thực tiễn trên cho thấy, việc đổi mớiphương pháp học tập của sinh viên đối với môn Những Nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin là việc làm cấp bách, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đàotạo và tự đào tạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Những Nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin theo học chế tín chỉ ở các trường cao đẳng, đại họchiện nay.

2. Hướng dẫn phương pháp học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin theo hướng tích cực

Cũng như các môn khoa học khác, dạyhọc môn Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin theo phương pháp tíchcực luôn gắn liền với việc tăng cường hoạt động tự học của sinh viên. Để giúpcác em có phương pháp học tập tốt, giảng viên cần hướng dẫn cho họ cách học,cách đi tới kiến thức trên cơ sở đó tiếp tục tự học tập suốt đời.

Hướng dẫn cách học, cách đi đến kiếnthức phải giúp người học đạt được:

- Biết cách xây dựng kế hoạch và thờigian biểu tự học hợp lý.

- Biết cách thức làm việc độc lập.

- Biết cách phân tích, tổng hợp, sosánh.

- Biết cách ôn tập, lượng giá kiến thứcmột cách tự giác.

- Cách tranh luận và biết trình bàyquan điểm của mình,…

Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy,chúng tôi đưa ra một phương pháp học gồm 6 bước để chúng ta cùng tham khảo, gópý cho hoàn chỉnh thêm:

Bước 1: Sinh viên đọc tài liệu trước ởnhà;

Bước 2: Sinh viên tập trung nghegiảng trên lớp;

Bước 3: Sinh viên tham gia hỏi - đáp,thảo luận;

Bước 4: Sinh viên chủ động, tự mìnhghi chép bài giảng của thầy, ý hay của bạn;

Bước 5: Sinh viên tự hệ thống bài;

Bước 6: Sinh viên ôn tập thường xuyên.

Tính khoa học của từng bước như sau:

Bước 1: Đọc tài liệu trước để sinh viên chủ động khi nghe giảng và tiếpthu bài giảng một cách không bị động.

Nhưng đọc cái gì, đọc như thế nào đểcó hiệu quả thì giảng viên phải có hướng dẫn cụ thể cho sinh viên về các yêucầu, khuyến khích sinh viên đọc và hướng dẫn nội dung cần đọc cũng như hướngdẫn phương pháp đọc.

- Trước hết, giảng viên cần hướng dẫncụ thể cho sinh viên cần phải đọc tài liệu nào? Phần nào? Theo những gợi ý nào?

Điều dễ nhận thấy, phương pháp nghiêncứu và học tập của sinh viên bị ảnh hưởng của những câu hỏi trong bài kiểm trahọ sắp phải làm. Do đó, nhiều sinh viên sẽ đọc và suy nghĩ cẩn thận nếu bàikiểm tra yêu cầu đọc và suy nghĩ sâu. Vì thế, giảng viên cần tuyên bố dứt khoátcho người học biết vì sao mình lại yêu cầu sinh viên đọc tài liệu, giáo trìnhđó và mình muốn họ học được gì từ đó.

- Thứ hai, giảng viên cần hướng dẫnphương pháp đọc cho sinh viên.

Trước hết là hướng dẫn khái quátnhững thao tác cơ bản khi đọc một tài liệu như: khi đọc một tài liệu cần hiểunội dung như thế nào? Suy nghĩ về mục đích viết của tác giả, mối quan hệ giữanhững điều đọc được với các điều đã học, cách sử dụng những kiến thức đã đọcnhư thế nào?.

Sau đó giảng viên gợi ý cho sinh viênlàm những việc sau đây:

+ Nhìn vào những đầu mục trước khinghiên cứu chương sách cần đọc.

+ Ghi ra giấy những câu hỏi mà họmuốn có lời giải đáp.

+ Ghi ra bên lề những ghi chú trongkhi đọc.

+ Gạch chân hoặc tô màu những kháiniệm quan trọng.

- Thứ ba, giảng viên phải có biệnpháp kiểm tra, khuyến khích việc đọc của sinh viên.

Sinh viên sẽ tích cực đọc tài liệukhi giảng viên có yêu cầu rõ ràng và kiểm tra, đánh giá kết quả đọc một cáchchặt chẽ. Họ sẽ thực sự tích cực đọc khi nhận thấy việc đọc đó là cần thiết choviệc tham gia quá trình dạy học của giảng viên và bồi bổ kiến thức cho bảnthân.

Thủ thuật đầu tiên để khuyến khíchsinh viên đọc là giảng viên cần dùng thường xuyên câu này: “Như các anh chị đãđọc trong phần…” hoặc nêu câu hỏi: “Cảm nghĩ của anh chị khi đọc vấn đề…”.

Thủ thuật thứ hai là yêu cầu sinhviên trả lời hoặc viết một bài trong vòng vài phút vào đầu tiết học với chủ đề:“Ý tưởng hay nhất (hay nhận thức sâu sắc nhất) mà bạn có được sau khi đọcphần…”.

Khi thiết kế các đề kiểm tra, thi hếthọc phần không được bỏ qua phần giao cho sinh viên tự học để họ thấy tầm quantrọng của phần kiến thức tự học.

Bước 2: Tập trung nghe giảng trên lớp.

Điều đó có nghĩa là sinh viên khôngđược nói chuyện riêng, làm việc riêng trong giờ học, phải tập trung chú ý caođộ vào lời giảng của thầy cô thì sinh viên mới hiểu được mọi ngọn nguồn của vấnđề, đặc biệt là những vấn đề khó (chỗ mà sinh viên đọc ở nhà không thể hiểuđược). Đồng thời khi tập trung chú ý sinh viên sẽ tranh thủ được những kiếnthức sâu rộng của thầy cô mà trong sách không có. Điều này tạo tin tưởng vàhứng thú cho sinh viên cũng như được gợi mở những ý tưởng mới cho việc nghiêncứu khoa học của mình.

Bước 3: Sinh viên tham gia hỏi - đáp, thảo luận.

Việc tập trung nghe giảng không cónghĩa là sinh viên chỉ biết tiếp nhận kiến thức từ thầy, chấp nhận tất cả mọivấn đề một cách dễ dàng. Khi có những thắc mắc cũng như khi yêu cầu được trảlời, yêu cầu phải giải quyết, sinh viên có cơ hội để trao đổi, tranh luận vớithầy cô, với bạn bè, qua đó hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn về bài học. Tích cực thamgia hỏi – đáp, thảo luận, sinh viên còn có điều kiện để khẳng định bản thân,rèn luyện kỹ năng phát hiện, phân tích, thuyết minh trước đám đông cũng như sựtự tin, mạnh dạn và vững vàng trong quan điểm chính kiến.

Bước 4: Chủ động, tự mình ghi chép bài giảng.

Sau khi đã đọc trước, sinh viên đãhình dung được trình tự giảng của thầy, cũng như các nội dung thầy sẽ giảng,thì cùng với quá trình nghe giảng và nghe trao đổi, thảo luận, sinh viên phảichủ động ghi chép những nội dung cần thiết, những nội dung ngoài sách đã đọc dothầy mở rộng, phát triển thêm và những ý hay mà bạn bè phát biểu. Việc sinhviên tự mình ghi chép bài giảng mà không phải chép bài giảng của thầy giúp sinhviên chủ động bắt óc suy nghĩ, không tiếp nhận một cách thụ động.

Tự mình ghi chép bài giảng của thầysẽ luyện cho sinh viên cách ghi chép không chỉ ở buổi lên lớp mà sẽ ghi chépđược trong các buổi nói chuyện chuyên đề một cách đầy đủ và ý thức tự lập trongviệc nghiên cứu các đề tài.

Bước 5: Sinh viên tự hệ thống từng bài học.

Sau khi đọc trước, nắm bài một cáchkhái quát, nghe giảng để làm rõ và sâu sắc hơn những vấn đề mình đã đọc, tự ghichép các ý mở rộng sâu sắc hơn của thầy, những ý cơ bản, then chốt của bài, kểcả những ý của sinh viên sáng tạo. Khi về nhà sinh viên tự mình soạn lại theođúng trình tự của bài đã học, nhưng với nhận thức của mình và cô đọng nhất.Sinh viên sẽ dựa vào bài soạn lại này để ôn tập.

Bước 6: Sinh viên ôn tập bài học thường xuyên.

Hiện nay, sinh viên có thói quen làkhi nào sắp sửa thi mới dở bài ra học một cách bị động, nhớ nhớ, quên quên…Cách học đó là do sinh viên không có thói quen ôn tập thường xuyên, đã nhầm lẫngiữa ôn và học. Một vài ngày Trường dành cho ôn trước khi thi thì các em lạibiến thành học trước khi thi, như vậy hiệu quả chắc chắn là thấp và không thểnhớ được bài vì khối lượng học quá nhiều. Do vậy, các em tính đến chuyện “họctủ”, “làm phao”, “quay cóp”. Vì thế giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên cáchôn tập thường xuyên và nên kiểm tra bài cũ thường xuyên. Các cụ ta có câu: “Mưadầm thấm lâu”. Đã có từng bài do chính mình hệ thống lại, các em phải dở ra xemlại thường xuyên, làm như vậy các em sẽ hiểu và nhớ lúc nào không hay. Giúp choôn thi dễ dàng hơn và mang lại hiệu quả cao.

Nếu tạo cho sinh viên có thói quen,tính kiên nhẫn để sinh viên thực hiện đủ 6 bước cần thiết tối thiểu kể trên sẽgiúp cho việc học tập của sinh viên đi vào nề nếp và tránh được những tiêu cựctrong thi cử. Thực hiện 6 bước trên, sinh viên rất cần sự động viên hướng dẫncụ thể, nhắc nhở thường xuyên của các thầy cô giáo. Khi đã có sinh viên làm tốtđược phương pháp này thì cần nhân rộng, tạo ra phong trào học tập theo hướngtích cực đó, chúng ta nhất định sẽ nâng cao được chất lượng học tập môn NhữngNguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin của sinh viên lên một bước cao hơn.

Kết luận

Hướng dẫn phương pháp học tập mônNhững Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường đại học, cao đẳnglà vô cùng cần thiết bởi đây là khâu quan trọng quyết định đến chất lượng họctập của sinh viên nói riêng và chất lượng giáo dục- đào tạo nói chung nhằm đápứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn lực con người trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cầncó sự thống nhất trong bộ môn và khoa về việc hướng dẫn cho sinh viên phươngpháp học tập tích cực đối với môn Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác-Lênin; đồng thời cần phải có những yêu cầu đối với sinh viên về phẩm chấtvà năng lực thích ứng với phương pháp dạy học mới.

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Lê Khánh Bằng(2001), Phương pháp dạy học và dạy cáchhọc ở đại học, NXB Đại học sư phạm Hà Nội.

[2]. TS. Nguyễn Duy Bắc(2004), Một số vấn đề lý luận và thựctiễn về dạy và học môn học Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đạihọc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[3]. Bộ Giáo dục và Đàotạo, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo.

[4]. Nguyễn Cảnh Toàn(1998), Quá trình dạy tự học, NXBGiáo dục, Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH TÍCHCỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNGSẢN VIỆT NAM Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

 

ThS. Nguyễn Thị Thanh Hà

Tổ Lịch sử Đảng- Tưtưởng Hồ Chí Minh

 

Tóm tắt

Tính tích cực, chủ động là yếu tố ảnh hưởng trực tiếpđến kết quả học tập của sinh viên đồng thời cũng là một trong những yếu tố ảnhhưởng đến chất lượng giảng dạy. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giảng dạy, mỗigiảng viên cần phải có các biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao tính tích cực, chủđộng trong học tập của sinh viên. Bài viết đề cập đến các nguyên nhân ảnh hưởngđến tính tích cực, chủ động trong học tập, đồng thời đề xuất một số biện phápgóp phần nâng cao tính tích cực, chủ động của sinh viên trong việc học mônĐường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mở đầu

Quá trình toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế, đã và đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với giáo dục ViệtNam: Giáo dục cần phải tạo ra những người lao động thích ứng được với yêu cầumới của thời đại, có kỹ năng nghề nghiệp tốt, có kiến thức chuyên môn sâu, đồngthời có đạo đức và phẩm chất chính trị, xã hội đúng đắn.

Để tạo ra được lực lượng laođộng đáp ứng được yêu cầu trên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấphành Trung ương khóa VII đã chỉ rõ, hệ thống giáo dục phải: “...xác định lạimục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp giáo dụcvà đào tạo”. Như vậy, bên cạnh việc đổi mới nội dung dạy học thì nhiệm vụ đổimới phương pháp dạy học nhằm phát huy mạnh mẽ tính tích cực, chủ động của ngườihọc là một nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng và luôn mang tính thời sựtrong hoạt động giáo dục và đào tạo nước nhà. Tinh thần đổi mới này một lần nữađược khẳng định trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010: “Đổi mới vàhiện đại hóa phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động,thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trìnhtiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tăng cường tính chủđộng, tích cực của sinh viên trong quá trình học tập”.

Với tinhthần trên, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại đang diễn ramạnh mẽ ở tất cả các trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Yêu cầu này trởnên cấp thiết đối với Trường Đại học Quảng Bình, một trong những địa chỉ đángtin cậy đào tạo đội ngũ lao động chất lượng cao của tỉnh.

Tuynhiên, trong thời gian qua việc giảng dạy và học tập môn Đường lối cách mạngcủa ĐCSVN ở Trường Đại học Quảng Bình vẫn còn nhiều bất cập. Giảng viên cố gắngtruyền đạt hết nội dung quy định trong chương trình và giáo trình, cố gắng làmcho sinh viên hiểu và nhớ những điều thầy giảng, ít sử dụng các phương pháphiện đại trong dạy và học bộ môn này. Phương pháp trên chưa phát huy được hếttính tích cực, chủ động của sinh viên. Vì vậy, nhiều em ngại học, chán học, dẫnđến mục đích, yêu cầu và chất lượng dạy - học của bộ môn không cao. Chính vìvậy, việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao tính tích cực, chủđộng học tập của sinh viên không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường, màcòn là nhiệm vụ quan trọng của từng giảng viên khi tham gia giảng dạy môn họcnhằm khơi dậy niềm say mê, hứng thú, tích cực trong học tập của sinh viên – mộtphẩm chất vô cùng quý giá của người học trong xã hội hiện đại, có vai trò quantrọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập của người học.

Nội dung

1. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ động học tậpcủa sinh viên

Về nguyên nhân khách quan

- Vai trò, vị trí của môn học

Môn học Đường lối cáchmạng của ĐCSVN là một trong ba môn học Lý luận chính trị. Là môn học khó, mới mẻ và có tính khái quátcao, đòi hỏi sinh viên phải có năng lực trừu tượng và tư duy rộng. Mặt khác, môn học này lại được bố trísắp xếp giảng dạy ngay từ những năm đầu của khoá học,trong khi đó sinh viên chủ yếu là mới tốt nghiệp phổ thông trung học nên khảnăng thích ứng với phương pháp học tập ở đại học, cao đẳng còn chậm, thực chất là sự chuyểnhoá từ phương pháp học ở phổ thông lên phương pháp học ở bậc đại học diễn racòn dài, chưa khắc phục kịpthời.

   - Sự không đồng đều về trìnhđộ nhận thức

Do đặc điểm đào tạo đangành nghề, đa bậc học của nhà trường dẫn đến tình hình sinh viên cũng phân hóađa dạng và biểu hiện ở nhiều trình độ khác nhau. Do đó, dẫn đến sự không đồngđều về trình độ nhận thức. Điều đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chứcgiảng dạy và chất lượng học tập, nghiên cứu môn học trong sinh viên không đồngđều.

- Phương pháp giảng dạy của giảng viên

Có thể nói rằng tính tích cực, chủđộng học tập của sinh viên chịu ảnh hưởng rất lớn từ phía người dạy, đặc biệtlà phương pháp giảng dạy.

Trong quá trình giảng dạy, nếu giảngviên sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, đặcđiểm nhận thức, phù hợp với từng nhóm chuyên ngành khác nhau, tăng cường sửdụng các phương pháp dạy học tích cực như nêu vấn đề, thảo luận, đàm thoại,...có thể khơi gợi được hứng thú học tập của sinh viên, phát huy được tính tíchcực, chủ động của sinh viên. Không những vậy, phong cách của giảng viên cũngảnh hưởng rất lớn đến tình cảm, thái độ, tính tích cực học tập ở trên lớp và cảkhâu tự học của sinh viên. Niềm say mê trong nghiên cứu khoa học, tính nghiêmtúc trong việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ của người thầy là tấm gương sángkhơi gợi tính tích cực, tự giác của sinh viên trong học tập.

- Điều kiện, phương tiện học tập

Điều kiện, phương tiện học tập có ảnhhưởng rất lớn đến niềm say mê, hứng thú và tính tích cực học tập của sinh viên.Trong đó, đáng chú ý là hệ thống thư viện, sách giáo trình và những tài liệutham khảo khác,... có ảnh hưởng trực tiếp nhất. Do đó, cần phải quan tâm, trangbị đầy đủ và từng bước hiện đại hóa các phương tiện học tập để sinh viên có đủđiều kiện học tập, nghiên cứu.

Về nguyên nhân chủ quan

- Trình độ nhận thức của sinh viên

Trình độ nhận thức và khả năng tự họccủa sinh viên là các yếu tố đảm bảo cho các em thích ứng được với các điều kiệnhọc tập, yêu cầu và nhiệm vụ học tập. Đối với những sinh viên có trình độ nhậnthức tốt và sinh viên chuyên ngành giáo dục chính trị thì dễ thấy có hứng thúhọc tập. Ngược lại, khả năng nhận thức không tốt, thua kém bạn bè cũng có thểdẫn đến tình trạng bi quan, chán nản, thiếu phấn đấu trong học tập.

- Động cơ học tập của sinh viên

Động cơ học tập là một trong nhữngthành tố chủ yếu của hoạt động học tập, tạo nên động lực thúc đẩy, lôi cuốn vàkích thích sinh viên tích cực, chủ động trong quá trình học tập. Tuy nhiên, vớinhiều sinh viên còn tỏ ra mơ hồ, thiếu trách nhiệm với việc học của chính mình,không chịu khó học hỏi, cầu thị, ý thức về môn học rất kém, thụ động.

Chúng ta thấy rất rõ hiệnnay sinh viên chưa đầu tư vào việc nghiên cứu lý luận cũng như nhận thức tầmquan trọng của việc học tập, nghiên cứu môn Đường lối cách mạng của ĐCSVN. Rấtnhiều sinh viên đến lớp trong các giờ học môn Đường lối cách mạng của ĐCSVN vớitinh thần coi đó là nhiệm vụ phải hoàn thành những học phần cơ sở để hoàn thànhđủ hệ thống tín chỉ theo yêu cầu của chương trình đào tạo. Thậm chí một số sinhviên còn không xác định được học tập môn Đường lối cách mạng của ĐCSVN để làmgì?... Bởi vì theo nhiều sinh viên đó là môn học không cần thiết và không liênquan gì đến chuyên ngành học của mình. Do đó, tâm lý chung của sinh viên chỉmuốn đầu tư vào các môn học chuyên ngành, e ngại việc học tập môn học này.

- Thái độ đối với học tập, nghề nghiệp

Thái độ đúng đắn đối với hoạt độnghọc tập, nghề nghiệp là điều kiện cần thiết để hình thành động cơ, hứng thú họctập ở sinh viên. Tuy nhiên, ở nhiều sinh viên nhận thức của các em về mục tiêu yêucầu đào tạo, về nhiệm vụ học tập còn có những biểu hiện lệch lạc. Có những quanniệm cho rằng cái khó nhất là đầu vào để được học tập và cứ vào trường học tậplà sẽ tốt nghiệp, hay cónhững sinh viên đi học chỉ vì do bố mẹ ép buộc. Từ đó dẫn đến tưtưởng trung bình chủ nghĩa trong học tập, thoả mãn dừng lại với những cái cósẵn, ngại đào sâu suy nghĩ, tìm tòi để nắm vững và mở rộng tri thức đã lĩnh hộiđược. Sinh viên chưa thực sự toàn tâm toàn ý cho việc học để nâng cao tri thức,học để sau này làm việc, học để thành người có ích cho xã hội mà còn có biểuhiện học chỉ vì bằng cấp, chỉ vì nghề nghiệp, cho nên dẫn đến học thụ động, đốiphó, thích kiểu dạy thầy “bày sẵn” chỉ việc ghi chép, khi ôn thì chỉ mong thầygiáo chốt lại một vài nội dung để học và thi.

Như vậy, xét về động cơvà mục đích học tập môn Đường lối cách mạng của ĐCSVN nói trong sinh viên hiệnnay có thể nói chưa có tính tự giác và còn mang tính đối phó.

2. Một số biện pháp góp phần nâng cao tính tích cực, chủ độngcủa sinh viên trong việc học tập môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản ViệtNam

Một là, tác động vào nhu cầu, khơi gợi hứng thú tạo động cơhọc tập tích cực cho sinh viên

Nhu cầu, hứng thú là nơixuất phát điểm của tính tích cực, chủ động học tập. Do đó, việc kích thích nhucầu, khơi gợi hứng thú học tập cho sinh viên cần phải được thực hiện và duy trìtrong suốt buổi học.

- Giảng viên thông quanội dung bài học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học và hình thức tổ chứcdạy học để tác động vào nhu cầu, hứng thú nhằm tạo động cơ học tập tích cực,mang tính chủ động của sinh viên đối với môn học.

- Giảng viên cần có cáchđặt vấn đề hấp dẫn. Có thể nói, với cách đặt vấn đề hấp dẫn sẽ quyết định phầnlớn sự thành công của tiết dạy và nó kích thích được nhu cầu, khơi gợi đượchứng thú học tập ở sinh viên. Cách thức tổ chức lớp học khoa học giúp sinh viêndễ tiếp thu bài giảng, tích cực tham gia giờ học.

- Phải giúp sinh viênhiểu được rằng, đây là môn học có ý nghĩa rất quan trọng nhằm trang bị cho cácem những hiểu biết cơ bản về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam,bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao ý thức trách nhiệm côngdân trước những nhiệm vụ trọng đại của đất nước. Do đó, ngay từ buổi lên lớpđầu tiên, giảng viên cần phải giới thiệu chung về môn học và ý nghĩa của việchọc tập môn học để giúp sinh viên thấy được vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọngcủa môn học trong toàn bộ chương trình đào tạo.

- Trong khi viết bàigiảng, giảng viên phải nắm vững đặc điểm từng đối tượng của mình: người học làsinh viên thuộc hệ đào tạo nào? Chuyên ngành gì? Các em cần gì từ môn họcnày?... Trong từng bài học cần xác định rõ mục tiêu về kiến thức, kỹ năng cầnthiết phải đạt được, đặc biệt là mục tiêu về thái độ cần hình thành được sautừng bài học cụ thể.

- Cần có “biện pháp mạnh”đối với những sinh viên thiếu trách nhiệm, thiếu tự giác, không phát huy khảnăng vốn có của bản thân. Đồng thời giúp các em thay đổi nhận thức học tập. Họcđể nâng cao năng lực nhận thức, để hoàn thiện mình, học cho chính mình chứkhông phải là học để đối phó, học để thi.

Do đó, đối với sinh viênngay từ khi bước chân vào giảng đường, sinh viên cần phải hình thành cho mìnhhệ thống động cơ, thái độ học tập đúng đắn, có ý chí và quyết tâm khắc phục mọikhó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ môn học.

Hai là, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theohướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của sinh viên

Để nâng cao tính tíchcực, chủ động học tập của sinh viên, giảng viên cần:

- Tăng cường sự kết hợpcác phương pháp dạy học khác nhau tùy thuộc vào nội dung từng bài học. Ví dụ phương pháp nêuvấn đề sẽ rất phù hợp khi vậndụng vào giảng dạy một số chương có nội dung kiến thức về đường lối xây dựngnền kinh tế thị trường, đường lối công nghiệp hóa, đường lối xây dựng, pháttriển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội. Giúp sinh viên phát triểnnhanh khả năng tư duy lôgíc, phân tích lý luận để khái quát các vấn đề thựctiễn của nền kinh tế đang diễn ra hàng ngày, từ đó phân tích được cơ sở lý luậnvà thực tiễn trong việc đề ra chủ trương, đường lối, tính khả thi và vai tròcủa các lực lượng xã hội trong việc thực hiện đường lối do Đảng Cộng sảnViệtNam đề ra.

Ngược lại, phương pháp đối thoại lạiđược sử dụng hợp lý khi phân tích nội dung tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộctrong chủ truơng của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậmđà bản sắc dân tộc. Giảng viên đưa ra một số chủ đề thuộc về các vấn đề chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội đang diễn ra trong đời sống xã hội, khuyến khíchsinh viên phát huy khả năng tư duy độc lập và thể hiện chính kiến của mìnhtrong quá trình tiếp cận các vấn đề có liên quan đến chủ trương, đường lối củaĐảng đang diễn ra trong thực tiễn cuộc sống...

- Tăng cường đặt câu hỏivà khuyến khích người học đưa ra câu hỏi.

Giảng viên có thể tạo sựtham gia tích cực của sinh viên bằng cách đưa ra nhiều câu hỏi để buộc mỗi sinhviên phải tích cực suy nghĩ, tìm ý trả lời. Đồng thời khuyến khích các em đặtcâu hỏi khi có những thắc mắc mà tự các em không giải quyết được. Giảng viêncần chú ý lắng nghe, tôn trọng ý kiến của sinh viên đồng thời đánh giá hợp lýkết quả học tập thông qua câu hỏi và câu trả lời trên lớp của các em sẽ giúpsinh viên có thêm “động cơ” để học tập tích cực hơn trong quá trình học trênlớp.

- Giảng viên nên áp dụngphương pháp “động não” để kích thích sinh viên suy nghĩ bằng cách đưa ra nhữngchủ đề hoặc vấn đề để sinh viên tìm hiểu, điều đó giúp các em cảm thấy mình cóliên quan đến bài giảng và thông qua đó biết được năng lực của mỗi sinh viên.

Ba là, khuyến khích học tập theo nhóm và tăng cường thảo luận

Giảng viên cần định hướngngay từ đầu môn học. Lựa chọn vấn đề và giao nhiệm vụ cho từng nhóm chuẩn bị.Đồng thời định hướng và hướng dẫn cách làm để sinh viên nghiên cứu và chuẩn bị.Có cách thức kiểm tra và nhận xét, đánh giá bài làm của sinh viên.

Sinh viên cần có sự chuẩnbị chu đáo, nghiêm túc trong quá trình thực hiện. Kết quả đó sẽ được sinh viênhoàn thành bằng những bài Báo cáo chuyên đề trước lớp, đưa ra thảo luận để cùngnhau nắm bắt, hiểu rõ những nội dung lý luận gắn liền với thực tiễn cuộc sống.Hình thức học tập này phần nào đã thoát khỏi tính sách vở, giáo điều, đưa ngườihọc với những kiến thức tìm hiểu ở sách vở đi vào thực tiễn. Như vậy, một mặtvừa giáo dục sinh viên về mặt nhận thức, một mặt làm cho sinh viên sớm tiếp cậnvới thực tiễn.

Bốn là, hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập và có phươngpháp tự học tích cực

Đây là một môn học khó,khối lượng kiến thức nhiều. Do đó để tránh tình trạng sinh viên chỉ tập trunghọc ở những thời điểm nhất định vào các kỳ thi, giảng viên cần hướng dẫn chosinh viên lập kế hoạch học tập một cách thuận lợi và khoa học.

- Vào đầu học phần giảngviên cần cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết môn học, giới thiệu giáotrình, tài liệu tham khảo, số lượng bài kiểm tra, hình thức thảo luận trên lớp,hình thức thi kết thúc môn học, hướng dẫn sinh viên những nội dung tự học ởnhà…từ đó sinh viên lập kế hoạch học tập phù hợp với môn học, thời gian và điềukiện của bản thân.

- Hướng dẫn sinh viên đọc tài liệu vàlựa chọn tài liệu phù hợp với từng nội dung bài học. Khuyến khích và hướng dẫnsinh viên tìm và đọc các tạp chí như tạp chí Cộng sản, tạp chí Lịch sử Đảng,tạp chí Lý luận chính trị... cũng như các văn kiện đại hội của Đảng có liênquan đến nội dung bài học.

- Hướng dẫn sinh viên cách nghe giảngvà ghi chép theo tinh thần tự học. Nếu có vấn đề nào không hiểu cần đánh dấulại và tiếp tục trao đổi với bạn bè với giảng viên nhằm nâng cao kiến thức.

- Hướng dẫn sinh viên cách thu thậpvà xử lý thông tin để tạo ra sản phẩm của tự học. Sinh viên có thể thu thậpthông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, song các em cần có sự lựa chọnnhững thông tin đúng đắn và khoa học nhất.

Tuy nhiên, việc tự họccủa sinh viên chỉ có kết quả khi có sự kiểm tra và đánh giá của giảng viên mộtcách thường xuyên hoặc sinh viên tự đánh giá, vì thông qua kiểm tra đánh giágiúp các em biết rõ ưu, nhược điểm của mình để có sự điều chỉnh hợp lý nhằmnâng cao hiệu quả học tập.

Năm là, tăng cường cơ sở vật chất, cung cấp đầy đủ tài liệuvà các trang thiết bị cho việc dạy và học

- Nhà trường cần phảităng cường cơ sở vật chất, cung cấp đầy đủ các trang thiết bị như máy chiếu,micro,...phục vụ cho việc dạy và học.

- Thư viện trường cần cóđủ sách giáo trình, báo, tạp chí,... cho sinh viên đọc tham khảo, nghiên cứu.Đây là việc làm hết sức cần thiết không những giúp sinh viên mở rộng thêm kiếnthức mà còn giúp sinh viên thấy được ý nghĩa thực tiễn của môn học, từ đó gópphần nâng cao hứng thú học tập của sinh viên.

Kết luận

Hoạt động họctập là hoạt động có ý thức, hoạt động này chỉ thực sự có hiệu quả khi người họcý thức được việc học và có ý thức học tập tốt, có tính tích cực, chủ động tronghọc tập. Do vậy, điều quan trọng là cần nhanh chóng khắc phục những hạn chế củasinh viên trong việc nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của môn họctrong việc xây dựng con người toàn diện về nhân cách, đạo đức và bản lĩnh cáchmạng. Làm cho người học nhận thấy kiến thức và tư duy lý luận là tiền đề cho sựđịnh hướng phát triển chuyên môn, ngành nghề, khẳng định vị trí, vai trò củabản thân sinh viên trong xã hội với những mối liên hệ ràng buộc bởi các quan hệxã hội phức tạp.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn Quốc (lầnthứ IX, X, XI), Nxb CTQG – Hà Nội.

[2]. TS. Nguyễn Duy Bắc (2004), Một số vấn đề Lýluận và thực tiễn về dạy và học các môn Khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh trong các trường đại học. NXB Chínhtrị quốc gia, Hà Nội.

[3]. Tạp chí Cộng sản (6-2013): Mộtsố vấn đề cần quan tâm trong giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị -hành chính (Nguyễn Tiến Dũng - Học viện chính trị - hành chính khu vực IV).

[4]. Tạpchí Dạy và Học ngày nay (11-2012): Mộtvài suy nghĩ bước đầu về đổi mới phương pháp dạy các môn khoa học Mác-Lênin vàTư tưởng Hồ Chí Minh. (Nguyễn Đình Lam – Trường Đại học Quảng Bình).

 

 

 

 ẬNDỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY "LẤY NGƯỜI HỌC LÀM TRUNG TÂM" VÀO GIẢNGDẠY HỌC PHẦN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN II Ở TRƯỜNG ĐHQUẢNG BÌNH

ThS.Nguyễn Thị Anh Khuyên

                                                                                        TổLý luận Mác - Lênin

 

Tóm tắt

 Phương pháp giảng dạy lấy ngườihọc làm trung tâm đã và đang là một vấn đề được nhiều nhà giáo dục học quan tâmvà nghiên cứu. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu một số yêu cầu cơ bảnđối với giảng viên và sinh viên trong hoạt động dạy và học theo hướng lấy ngườihọc làm trung tâm  và vận dụng vào việcgiảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin II tạiTrường Đại học Quảng Bình.

Mở đầu

 Trong lịch sử phát triển của giáodục và nhà trường, dạy học tồn tại như là một hiện tượng xã hội đặc biệt, làmột quá trình hoạt động phối hợp giữa người dạy và người học. Nhờ đó mà mỗi cánhân có thể làm phong phú vốn học vấn của mình bằng kho tàng trí tuệ của nhânloại thông qua quá trình dạy học. Các phương pháp dạy học ở đại học là một hệthống những con đường, cách thức dạy và học của người dạy và người học. Phươngpháp dạy học có chức năng xác định những phương thức hoạt động dạy và học theonhững nội dung nhất định nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học đã đềra trong quá trình dạy học ở các bậc đại học. Đổi mới phương pháp giảng dạynhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình giảng dạy là một trong những yêu cầu cấpthiết đối với việc giảng dạy nói chung và giảng dạy đại học nói riêng. Đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng "lấy người học làm trung tâm" là mộtvấn đề đã được đặt ra khoảng vài năm lại đây.

Nộidung

1. Phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm

Quan điểm giảng dạy lấy người học làm trung tâm  ở nước ta được xác định là toàn bộ hoạt độngcủa môn học nhằm phục vụ cho người học học tập tốt, học tích cực và sáng tạo,nắm vững nội dung môn học và biết vận dụng nội dung môn học vào đời sống để cóđịnh hướng đạo đức, xã hội đúng đắn.

Vai trò của người giảng viên trong hoạt động dạy học theo hướng lấyngười học làm trung tâm không còn theo nghĩa là người truyền đạt kiến thức cósẵn mà là người định hướng, hướng dẫn cho sinh viên tự mình nghiên cứu, tự tìmra kiến thức. Ngoài ra giảng viên còn là người phụ trách hướng dẫn quá trìnhnghiên cứu, học hỏi và thảo luận của sinh viên, là người khẳng định về mặt khoahọc các cuộc tranh luận của giảng viên. Đối với phương pháp giảng dạy này, vaitrò của người giảng viên không chỉ là người khẳng định đúng, sai... mà giờgiảng có hiệu quả và phát huy được tính chủ động của sinh viên còn phụ thuộcvào khả năng sư phạm của giảng viên trong việc khéo léo đặt vấn đề và hướng dẫnsinh viên phương pháp học tập tích cực, độc lập giải quyết vấn đề. Đối với bậcđại học yêu cầu đối với quá trình giảng dạy của giảng viên ngoài việc truyềnđạt tri thức, nâng cao năng lực hoạt động trí tuệ của sinh viên, người giảngviên cũng cần rèn luyện cho sinh viên kỹ năng nghiên cứu. Muốn vậy, người giảngviên cần không ngừng nâng cao trình độ, có khả năng sư phạm.

Yêu cầu đối với sinh viên: quá trình học tập theo phương pháp lấy ngườihọc làm trung tâm, sinh viên phải là khách thể tiếp thu chủ động tri thức được giảng viên cung cấp, sinh viên một mặt làđối tượng của hoạt động dạy nhưng đồng thời là chủ thể của hoạt động nhận thứccó tính chất nghiên cứu nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có liên quanđến nghề nghiệp tương lai của mình. Để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ nói trên,sinh viên cần phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập của mình dưới sựhướng dẫn của giảng viên.

2. Thực trạng giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin II Trường Đại học Quảng Bình

Học phần những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin II bao gồm haiphần cơ bản. Phần thứ hai: Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác- Lênin vềphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phần thứ ba: Lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin về chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tậptrung bàn đến phần thứ hai - Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác- Lênin vềphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Từ quá trình tham gia giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin II từ năm học 2009 đến nay cho thấy:

Đối với giảng viên tham gia giảng dạy: trình độ giảng viên ngày càngnâng cao. Cụ thể các giảng viên tham gia giảng dạy đều có trình độ thạc sỹ, đãkhắc phục được tình trạng cử nhân giảng dạy cử nhân. Tuy nhiên, vẫn còn tìnhtrạng một giảng viên giảng dạy nhiều phân môn khoa học khác nhau nên trong quátrình thiết kế, soạn giảng gặp không ít khó khăn.

 Đối với sinh viên: việc tiếp thuvà kết quả thi học kỳ của sinh viên học Trường Đại học Quảng Bình vẫn chưa cao. Cụ thểtỷ lệ sinh viên đạt điểm A ít, tỷ lệ đạt điểm D, điểm E nhiều, thậm chí nhiềusinh viên tiến hành học tiến độ riêng. Có thể chỉ ra những lý do cơ bản nhưsau:

- Đây là một học phần mang tính lý thuyết cao đồng thời nội dung mangtính trừu tượng.

- Thời lượng môn học ít, từ 45 tiết nhưng lại chứa đựng khối lượng kiếnthức nhiều.

- Tâm lý chung của sinh viên cho rằng đây là một môn học phụ, không cầnthiết.

- Sinh viên được học tại năm thứ nhất, chưa quen với phương pháp học ởcác bậc đại học đồng thời chưa hội tụ đủ yếu tố tâm lý và tri thức để đam mêđối với những phạm trù  kinh tế chính trịvà các chủ trương đường lối của Đảng.

- Thái độ học tập của sinh viên vẫn còn thụ động, chưa phát huy đượcnăng lực tự nghiên cứu, sáng tạo.

- Cơ sở vật chất còn thiếu, đặc biệt là hệ thống loa máy ở giảng đườngC. Khó khăn cho giảng viên và sinh viên trong quá trình học tập.

Do đó, đổi mới phương pháp giảng dạy môn học Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin II là việc làm cần thiết, có tính quyết định trong quátrình nâng cao chất lượng giảng dạy.

3.  Vận dụng phương pháp giảng dạylấy người học làm trung tâm trong quá trình giảng dạy Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác- Lênin II ở Trường Đại học Quảng Bình

Phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm, người học giữ vai tròtích cực, chủ động trong quá trình học tập, không còn ở thể thụ động như quátrình giảng dạy theo phương pháp sư phạm truyền thống. Tuy nhiên, trongviệc vận dụng phương pháp lấy sinh viênlàm trung tâm không nên tuyệt đối hóa vai trò của sinh viên mà hạ thấpvai trò của giảng viên. Sinh viên không thể tự mình trở thành trung tâm trongquá trình nắm bắt kiến thức. Hoạt động học tập của sinh viên chỉ có thể trở nêntích cực dưới sự chỉ đạo nghiêm túc và sáng tạo của giảng viên.

Với đặc thù của học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin IIchứa nhiều nội dung lý thuyết và mang tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao,đồng thời đây là học phần còn chứa đựng nội dung quan điểm, chủ trương củaĐảng, Nhà nước do đó vai trò của người giảng viên trong việc tổ chức lớp học làrất quan trọng trong việc định hướng, tổ chức, điều khiển hoạt động học tập củasinh viên. Trong quá trình giảng dạy, tùy vào những trường hợp cụ thể, nhữngnội dung cụ thể của bài học mà giảng viên có thể lựa chọn phương pháp giảng dạyphù hợp. Có rất nhiều phương pháp sư phạm khác nhau được sử dụng trong quátrình giảng dạy, tuy nhiên có thể tổng hợp thành ba kiểu phương pháp chính:

- Kiểu phương pháp thôngbáo - tái hiện

- Kiểu phương pháp giải thích - tìm kiếm bộ phận

- Kiểu phương pháp nêu vấn đề - nghiên cứu

Đối với kiểu phương pháp thông báo tái hiện, là kiểu phương pháp sư phạmtruyền thống, chú trọng vai trò của người giảng viên trong hoạt động dạy học.Kiểu phương pháp này mặc dù rất cần thiết tuy nhiên tác giả xin tập trung vàohai phương pháp giải thích - tìm kiếm bộ phận và nêu vấn đề - nghiên cứu.

3.1. Kiểu phương pháp giải thích - tìm kiếm bộ phận: Đây làkiểu phương pháp dạy học trong đó có sự kết hợp giữa lời giải thích của giảngviên về một phần tài liệu học tập và hoạt động tìm kiếm của sinh viên về mộtphần còn lại của tài liệu. Thực chất trong kiểu phương pháp này, sinh viên bắtđầu tham gia giải quyết một phần vấn đề, giải quyết một hoặc một số bước chứkhông phải toàn bộ các bước.

Cụ thể: Đối với học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - LêninII, trong chương IV, với nội dung quy luật giá trị, kiểu phương pháp này có thểđược áp dụng như sau:

 

            Yêu cầu đối với sinh viên: Thônghiểu các dữ liệu và yêu cầu của bài tập, huy động các tri thức và con đường đểgiải quyết bài tập, tự mình giải quyết bài tập, tự kiểm tra, đánh giá, ghi nhớcác tài liệu liên quan đến bài tập, tái hiện tiến trình giải quyết và nhận xét.

Phương pháp này góp phần phát huy tính chủ động sáng tạo của sinh viên,tránh được tư tưởng và cách học thụ động.

3.2. Kiểu phương pháp nêu vấn đề - nghiên cứu: Thựcchất của kiểu phương pháp này là giảng viên giao những vấn đề dưới hình thứcmột bài làm có tính chất nghiên cứu còn sinh viên tự làm. Trong quá trình tựnghiên cứu, sinh viên dần dần tiếp thu nội dung cụ thể của bài học. Cụ thể, trongchương V: Học thuyết giá trị thặng dư, giảng viên có thể yêu cầu sinh viênnghiên cứu những vấn đề như: hàng hóa sức lao động, giá trị thặng dư, khủnghoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản... Trong bài viết này, tác giả lấy nộidung khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản để phân tích các bước nghiêncứu.

Kiểu phương pháp này có tác dụng phát huy tính năng động, tự chủ, sángtạo của sinh viên, đồng thời giúp họ bồi dưỡng những phẩm chất và tác phong củanhà nghiên cứu.

Nhìn chung, học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin IIlà học phần khó và nặng về lý thuyết, để đạt được hiệu quả cao cần có sự phốikết hợp bởi nhiều nhân tố.

 Kết luận

Có thể nói, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làmtrung tâm và vận dụng phương pháp này trong giảng dạy học phần Những nguyên lýcơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin II là việc làm cần thiết. Phương pháp giảngdạy lấy người học làm trung tâm cần được xem xét trên phương diện giảng dạy lẫnphương pháp kiểm tra đánh giá kết quả. Tuy nhiên để quá trình dạy và học đemlại hiệu quả cao cũng cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía. Cụ thể:

- Đây là một học phần chủ yếu được trình bày bằng phương pháp thuyếttrình và đòi hỏi sự trao đổi giữa người dạy và người học, do đó cần được hỗ trợvề phương tiện vật chất như loa máy. Hiện nay đa số các lớp học theo hệ thốngtín chỉ có tổng số 80 sinh viên, kính đề nghị Nhà trường tạo điều kiện hỗ trợvề loa máy nhằm đảm bảo quá trình dạy và học có hiệu quả.

- Bố trí lớp học không nên quá đông, cụ thể không nên quá 60 sinh viêntrong một lớp học nhằm tạo điều kiện cho giảng viên quản lý lớp học.

- Xây dựng nội dung bài giảng lấy người học làm trung tâm cần phải căn cứvào khả năng và chuyên ngành của sinh viên do đó, trong quá trình ghép lớp nênghép những lớp có chuyên ngành gần giống nhau vào một lớp.

- Nội dung của học phần bao gồm các quan điểm chủ trương đường lối củaĐảng và Nhà nước, do đó kính đề nghị Nhà trường, Phòng đào tạo, Khoa tạo điềukiện cho giảng viên đi học tập, quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhànước.

 

TÀI LIỆU THAMKHẢO

1.Bộ Giáo dục và đào tạo (2009), Giáo trìnhNhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia.

2.Bộ Giáo dục và đào tạo (2009), Tài liệuhướng dẫn học tập các môn khoa học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh , NxbChính trị Quốc gia.

3. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình,sách khoa, Nxb Đại học sư phạm.

 

 

 ĐA DẠNG HÓA CÁC HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA

 NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

                                                                                     ThS. Phùng Thị Loan

                                                                                   TổChính trị và Pháp luật

Tóm tắt

Xuất phát từ vai trò của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường,việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Pháp luật đại cương có ý nghĩa vô cùngcấp thiết. Ngoài giảng dạy chính khóa, việc thường xuyên tổ chức các hoạt độngngoại khóa, ngoài giờ lên lớp có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệuquả giảng dạy môn Pháp luật đại cương

Mở đầu

Theo Kế hoạch số 844/KH-ĐHQB, TrườngĐại học Quảng Bình đã bổ sung môn phápluật đại cương thành môn học bắt buộc và môn pháp luật chuyên ngành phù hợp vàochương trình đào tạo của tất cả các ngành học theo quy định tại khoản 2, Mục IINghị quyết số 61/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thựchiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nângcao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân và điểm a, khoản 4, Điều1 Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtĐề án nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhàtrường.

   Thực hiện Kế hoạch của Nhà trường, bắt đầu từhọc kỳ 1, năm học 2013 - 2014, môn Pháp luật đại cương đã được triển khai giảngdạy cho tất cả các ngành học, các hệ đào tạo trong Nhà trường. Đặc trưng củamôn học này là sự kết nối giữa lý thuyết và thực tiễn, tính ứng dụng thực tếcao, vì thế thông qua các hoạt động ngoại khóa, sinh viên sẽ có cơ hội áp dụngnhững kiến thức lý thuyết đã học vào các tình huống thực tế trong cuộc sống,làm phong phú vốn kiến thức đồng thời rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử và giải quyếtcác tình huống pháp luật; cập nhật các kiến thức pháp luật mới.

            Muốnđạt được mục tiêu đó, sinh viên cần có nhiều cơ hội để được tiếp cận và tự mìnhlinh hoạt giải quyết vấn đề. Nhà trường cần tạo nhiều sân chơi, nhiều diễn đànđể sinh viên được thể hiện và thử sức mình. Trong phạm vi bài viết này, tác giảmạnh dạn đưa ra một số hình thức hoạt động ngoại khóa nhằm nâng cao chất lượnggiảng dạy môn Pháp luật đại cương.

Nội dung

            1. Thành lập câu lạc bộpháp luật

Câu lạc bộ pháp luật lànơi các sinh viên được bày tỏ những thắc mắc, những câu hỏi và những trăn trởmà có thể trong giờ học chính khóa chưa có cơ hội và thời gian giải đáp. Ở đâysẽ có một số giảng viên chuyên ngành luật hỗ trợ thêm về kiến thức, thậm chí lànhững nhà tư vấn pháp luật khi cần thiết.

            Đểcâu lạc bộ hoạt động có hiệu quả cần lưu ý một số vấn đề sau:

            -Về nội dung: Câu lạc bộ nên xây dựng nội dung hoạt động theo chủ đề từng tháng,sau đó bám sát vào từng chủ đề để nội dung phù hợp. Ví dụ chủ đề "phòngchống tệ nạn ma túy", "các giải pháp phòng, chống tội phạm","phòng chống tham nhũng"... Hoặc tùy từng đối tượng để xây dựng chủđề. Đối với đối tượng là sinh viên nữ, nội dung chủ đề có thể là "vấn đềbình đẳng giới", "vấn đề bạo hành gia đình Việt Nam hiện nay",đối với đối tượng là những sinh viên năm cuối, có thể xây dựng chủ đề "chủquyền biển đảo Việt Nam"... Thông qua những nội dung hoạt động đó, chúngta có thể lồng ghép tuyên truyền các văn bản pháp luật liên quan như: LuậtPhòng chống tham nhũng, Luật Phòng chống bạo hành gia đình, Luật Bình đẳnggiới...

            Ngoàira, Ban thường trực của Câu lạc bộ có thể giải đáp những thắc mắc, nhưng câuhỏi của sinh viên khi cần thiết.

            -Về phương thức hoạt động: Câu lạc bộ cần xây dựng phương thức hoạt động thậtphong phú, đa dạng, hấp dẫn để thu hút được càng đông số lượng thành viên thamgia càng tốt. Cụ thể có thể kết hợp những phương thức sau: Tổ chức các cuộc nóichuyện, tọa đàm theo chủ đề; hái hoa dân chủ; giải đáp pháp luật; xây dựng cáctiểu phẩm, văn nghệ, cung cấp thông tin, tư liệu; tổ chức các buổi giao lưugiữa các khóa, các lớp...

            2. Tăng cường đưa sinhviên đi tham dự các phiên tòa

Ông cha ta thường có câu:“Trăm nghe không bằng một thấy”, sau những giờ giảng về kiến thức đạo đức, đặcbiệt là pháp luật trên giảng đường thì những dịp được nhìn thấy những gì diễnra ở phiên tòa sẽ giúp sinh viên không những củng cố kiến thức đã học (về tốtụng dân sự, tố tụng hình sự…) mà còn được tiếp cận nội dung những vụ án, biếtvận dụng kiến thức pháp luật vào từng vụ án cụ thể.

            Đểphát huy hiệu quả hoạt động này, các giảng viên cần chủ động, tích cực trongvấn đề sau:

            -Xây dựng kế hoạch đi tham dự phiên tòa

            -Liên hệ các khoa, phòng để làm tốt các khâu như điều động sinh viên, đặc biệtlà phương tiện, thời gian, quản lý sinh viên...

            -Liên hệ các Tòa án nhân dân Tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hớivề thời gian, về tổ chức...

            -Sau khi đi thực tế, yêu cầu sinh viên viết Bản thu hoạch để có thể nắm bắt,khảo sát kết quả hoạt động như thế nào.

            3. Tổ chức các cuộc thitìm hiểu pháp luật

Trong các hình thức tổchức hoạt động ngoại khóa thì đây là một sân chơi thu hút khá đông sinh viêntham gia. Với tính chất của một cuộc thi sẽ tạo sự hứng khởi, thi đua giữa sinhviên các lớp, các khoa và thậm chí là giữa các trường với nhau. Ở đây sinh viêncó cơ hội được thể hiện kiến thức cũng như sự sáng tạo của mình. Thông thườngcác phần thi không đơn thuần là lý thuyết vì như vậy sẽ rất khô khan mà lồngghép các nội dung đa dạng như sân khấu hóa, hùng biện, văn nghệ…

Để tổ chức một cuộc thithật sự thành công cần lưu ý một số điểm sau:

            Thứ nhất, giai đoạn chuẩn bị. Ở giaiđoạn này, Nhà trường chỉ đạo và giao nhiệm vụ, công việc cụ thể cho Đoàn Thanhniên, Hội sinh viên và các khoa, phòng về một số nội dung:

            Xâydựng kế hoạch tổ chức cuộc thi, trong đó cần định hướng rõ mục đích, yêu cầu,đối tượng, nội dung, hình thức thi, cơ cấu giải thưởng, nguồn kinh phí, thànhlập Ban tổ chức, Ban giám khảo.

            Vídụ: Tổ chức Cuộc thi “Tìm hiểu Luật Giao thông đường bộ”, cần chi tiết các nộidung:

            -Mục đích của cuộc thi: Nhằm nâng cao nhận thức, giáo dục, tăng cường ý thứctham gia giao thông trong sinh viên toàn trường, góp phần hạn chế và đẩy lùitai nạn giao thông trong toàn tỉnh.

            -Yêu cầu của cuộc thi là bảo đảm tính thiết thực, dễ hiểu, tạo sân chơi hấp dẫn,phong phú, sinh động, phát huy được tính sáng tạo, năng động của sinh viên đồngthời gắn với chủ đề của cuộc thi nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác tuyêntruyền, phổ biến và giáo dục pháp luật cho sinh viên.

            -Nội dung thi: Cần chi tiết và quy định rõ về các phần thi, ví dụ như khi xâydựng chủ đề “Tìm hiểu Luật Giao thông đường bộ”, nội dung cần tập trung bám sátchủ đề và chỉ ra rõ bao gồm mấy phần thi. Thông thường có 3 phần thi: Phần thilý thuyết, phần thi năng khiếu (tiểu phẩm), phần thi hùng biện. Ngoài ra đểcuộc thi thêm sinh động và hấp dẫn, có thể xen kẽ những tiết mục văn nghệ.

            -Hình thức thi: Vì mục đích của cuộc thi chủ yếu là tuyên truyền, phổ biến cácquy định của pháp luật, vì vậy càng thu hút được nhiều sinh viên tham gia càngtốt. Do đó nên tổ chức các đội thi cơ cấu theo từng Khoa, mỗi Khoa một đội vàthi cùng với nhau, tuy nhiên cần quy định rõ mỗi đội bao nhiêu thành viên.

            -Nguồn kinh phí tổ chức cuộc thi: Để cuộc thi được thành công thì vấn đề kinhphí rất quan trọng. Nhà trường phối hợp cùng Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên đểcùng thống nhất về nguồn kinh phí, trong đó phải bao gồm chi phí cho các độiluyện tập, chi phí cho Ban Tổ chức, Ban Giám khảo… và đặc biệt là chi phí chogiải thưởng.

            -Thành lập Ban tổ chức cuộc thi: Ban Tổ chức cuộc thi có thể bao gồm đại diệnBan Giám hiệu, đại diện Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên, đại diện các khoa,phòng…

            -Xây dựng thể lệ cuộc thi: Đây là nội dung khá quan trọng, do vậy thể lệ cuộcthi phải bao gồm những thông tin chính xác và hợp lý như thời gian tổ chức cuộcthi, nội dung thi, đối tượng dự thi, cơ cấu giải thưởng như thế nào… Vì tínhchất của cuộc thi thường mang tính chất thi đua nên cần quy định rõ trường hợphai đội bằng điểm nhau thì sẽ xử lý như thế nào, nếu trả lời câu hỏi phụ thìtính điểm ra sao… Tức là yêu cầu cần phải tính đến những tình huống có thể xảyra trong cuộc thi để xử lý nhanh chóng và chính xác, tránh trường hợp gây tranhcãi giữa các đội.

            -Thành lập Ban Giám khảo: Ban tổ chức có trách nhiệm ra Quyết định thành lập BanGiám khảo, Ban Giám khảo phải là những người có trình độ chuyên môn, hiểu biếtvề nội dung cuộc thi, có uy tín, có trách nhiệm. Ban Giám khảo cũng chịu tráchnhiệm về nội dung câu hỏi, đáp án…

            Thứ hai, giai đoạn tổ chức cuộc thi. Saukhi giai đoạn chuẩn bị đã được chuẩn bị một cách chu đáo và kỷ lưỡng, giai đoạnhai sẽ được triển khai rất thuận lợi.

            Đầutiên phải phát động cuộc thi bằng cách thông báo thể lệ, nội dung cuộc thi đếncác khoa, phòng. Để cuộc thi nhận được sự hưởng ứng tích cực, sự quan tâm từphía sinh viên, cần thiết kế các panô, các khẩu hiệu treo ở các giảng đường,cổng trường hoặc đưa các thông tin cuộc thi lên trang web của Nhà trường.

            Trongsuốt quá trình truyên truyền về cuộc thi, Ban tổ chức phải luôn theo dõi, đônđốc, thâm chí nếu các khoa, các đội thi có thắc mắc, câu hỏi gì chưa rõ về cuộcthi, cần nhanh chóng giải đáp để cuộc thi được tổ chức theo đúng kế hoạch đãxây dựng.

            Giaiđoạn quan trọng nhất là thời điểm tổ chức cuộc thi. Tất cả các khâu chuẩn bịphải được rà soát kỹ từ sân khấu, ánh sáng, loa máy, âm thanh cho đến khâu quảnlý sinh viên của các khoa – là những cổ động viên của các đội. Cần huy động lựclượng của Phòng Công tác sinh viên, các giảng viên chủ nhiệm, Ban cán sự lớp…Và đặc biệt nhất sự có mặt và tham gia của Ban tổ chức, Ban giám khảo, các độithi. Các thành viên của Ban Giám khảo phải làm việc hết sức công tâm, côngbằng, khách quan, việc đánh giá phải chính xác và nghiêm túc, làm cơ sở choviệc đánh giá và xếp loại các đội.

            Thứ ba, giai đoạn tổng kết cuộc thi. Đâylà giai đoạn cuối cùng của cuộc thi, Ban tổ chức đánh giá toàn diện cuộc thi,đặc biệt là đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục phápluật. Ngoài ra, cần lưu ý khâu tổng kết và trao giải. Lễ tổng kết cần có sựchuẩn bị chu đáo về nội dung, hình thức, đặc biệt là cần có sự hỗ trợ của âmthanh, ánh sáng, người dẫn chương trình… để giúp cho phần trao giải thật sựhoành tráng, tôn vinh những cá nhân và tập thể đạt giải. Qua đó cũng góp phầnđạt sự thành công của cuộc thi.

4. Tổ chức các buổi báo cáo chuyên đề

Hình thức này sẽ tổ chứctheo từng chủ  đề của tháng hoặc giớithiệu các văn bản pháp luật mới, những vấn đề có tính thời sự cao như vấn đềbảo vệ môi trường, các giải pháp hạn chế tình trạng vi phạm an toàn giao thôngtrong học sinh - sinh viên, phòng chống tệ nạn xã hội…  Đây là diễn đàn để giảng viên và sinh viênđược trao đổi và tìm hiểu những nội dung chuyên sâu và thông thường sẽ do cácgiảng viên chuyên ngành đảm nhận.

Tuy nhiên để buổi báo cáochuyên đề có hiệu quả, cần làm tốt một số vấn đề sau:

- Giảng viên cần chuẩn bịnội dung chu đáo, ngoài việc giảng viên truyền tải nội dung, nên dành một phầnthời gian để có sự trao đổi giữa sinh viên và giảng viên dưới dạng đưa ra cáccâu hỏi, các tình huống thực tế… nhằm không khí sôi nổi, hào hứng.

- Ngoài ra cũng cần lưu ývề số lượng sinh viên tham dự, thông thường nên chọn đối tượng sinh viên theotừng khối ngành, từng khóa hoặc ít hơn là từng lớp để buổi báo cáo có chấtlượng.

- Đối với từng buổi báocáo cần có sự phối kết hợp giữa các khoa, phòng trong vấn đề chuẩn bị cơ sở vậtchất cũng như quản lý sinh viên…

5. Tổ chức các chuyến đi tham quan thực tế

Đây là hình thức mà sinhviên được trải nghiệm và thử thách mình qua mỗi chuyến đi. Các em được biết đếnnhững vùng đất mới, những nét văn hóa mới, làm quen với những con người mới vàđặc biệt là tích lũy thêm cho mình rất nhiều vốn sống. Vì thế đây là hình thứcđược khá nhiều sinh viên yêu thích và ủng hộ, qua đó các em cũng rèn luyện kỹnăng hòa nhập với tập thể, thích nghi với cái mới. 

Tham quan, thực tế làphương pháp học tập thực tế và hiệu quả đã và đang được áp dung ở nhiều ngànhhọc. Mục đích của chuyến đi là để các thànhviên trong đoàn học hỏi kiến thức, kinh nghiệm thực tế, các mô hình… đểtừ đó sinh viên làm giàu thêm vốn sống của mình. Ngoài ra chuyến đi còn là cơhội để các thành viên giao lưu, học hỏi, xích lại gần nhau đồng thời các thànhviên trong đoàn còn có thể thiết lập thêm nhiều mối quan hệ với những nơi màđoàn đã đi qua.

Kết luận

Hoạt động ngoại khóa cómối quan hệ khá khăng khít với hoạt động chính khóa, có tác dụng rất lớn trongviệc hỗ trợ và nâng cao chất lượng công tác giảng dạy chính khóa. Bên cạnh việccung cấp kiến thức lý thuyết giảng viên còn phải quan tâm đến quá trình hìnhthành và phát triển các kỹ năng, các quan hệ giao tiếp, đưa sinh viên đến gầnhơn với hiện thực cuộc sống. Chính vì vậy áp dụng các hình thức hoạt động ngoạikhóa vào trong hoạt động giáo dục của Nhà trường có ý nghĩa rất lớn trong việcnâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và môn Pháp luật đại cương nói riêng.

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007),Giáo trình Lý luận chung về nhà nước vàpháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

2. Ths. Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang, Hoạt động ngoại khóa nhìn từ góc độ lợi íchcủa người học, Kỷ yếu Hội thảo Hiệu quả của hoạt động ngoại khóa đối vớiviệc nâng cao chất lượng dạy – học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh,2007.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG GIẢNG DẠY CÁC  MÔN HỌC PHÁP LUẬT

ThS. Nguyễn Hoàng Thủy

Tổ Chính trị và Pháp luật

Tóm tắt

Hiện nay, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực đangtrở thành một yêu cầu không thể thiếu trong công tác giảng dạy nói chung, hoạtđộng dạy và học nói riêng. Sự lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với môn họccũng là một bước quan trọng góp phần không nhỏ nâng cao hiệu quả của việc ápdụng các phương pháp dạy học tích cực. Đối với các môn học pháp luật, có thểnói áp dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giải quyết bài tập tình huống làmột giải pháp khá hiệu quả. Để cùng trao đổi kinh nghiệm, trong phạm vi thamluận này, nội dung giới thiệu các loại tình huống và các bước áp dụng phươngpháp thảo luận nhóm vào giải quyết tình huống có hiệu quả.

Mở đầu

Nhu cầu của công cuộc đổimới nền kinh tế đất nước cần có những con người có bản lĩnh, có năng lực trong laođộng sáng tạo, dám nghĩ dám làm. Đảng và Nhà nước xác định giáo dục và đào tạocó vai trò rất quan trọng để góp phần đáp ứng những nhu cầu đó của xã hội. Muốnkhẳng định được vai trò của mình, trước hết, ngành giáo dục và đào tạo phảithực hiện tốt mục tiêu đổi mới phương pháp dạy - học đã đề ra, nâng cao kiếnthức, năng lực tự giác cho học sinh ở tất cả các cấp học, bậc học. Nhận thức rõtầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học, Khoa Lý luận Chính trị, trườngĐH Quảng Bình tổ chức hội thảo “Nâng caochất lượng giảng dạy các môn Lý luận Chính trị” nhằm tạo điều kiện cho cácgiảng viên trong Khoa trao đổi, chia sẽ kinh nghiệm việc áp dụng các phươngpháp dạy học tích cực, từ đó hoàn thiện công tác giảng dạy của mình.

Hiện nay, ở nhiều trườngđại học nói chung, trường ĐH Quảng Bình nói riêng, thực tế cho thấy đang có sựmất cân đối giữa phương pháp giảng dạy cũ với phương pháp giảng dạy mới, giữahoạt động dạy và học. Với cách giảng dạy cũ, giảng viên lên lớp chủ yếu bằngphương pháp thuyết trình, giảng giải. Cách dạy này có đặc điểm: giảng viêngiảng giải, thuyết trình, làm theo kế hoạch định sẵn một cách máy móc còn sinhviên nghe, ghi chép, trả lời, làm theo thầy, rập khuôn, lệ thuộc vào sách, phụthuộc vào thầy. Điều này dẫn đến sinh viên hạn chế năng lực sáng tạo, thiếu chủđộng, trong khi đó yêu cầu đặt ra đối với giáo dục là phải tạo ra con ngườibiết chủ động, sáng tạo, tự khám phá xử lý thông tin, phát hiện vấn đề. Học tậptheo phương pháp thảo luận nhóm sẽ khắc phục được một phần những hạn chế trên.Ngày nay, thảo luận nhóm đang được áp dụng ngày càng nhiều vào nhà trường và đãtrở thành một trong những phương pháp giáo dục có hiệu quả nhất.

Phương pháp thảo luậnnhóm có ý nghĩa:

- Với cá nhân: Học đượctính kiên trì trong việc theo đuổi mục đích, nâng cao được khả năng tư duy phê phán, tư duy logic, bổ sung kiến thức nhờ học hỏi lẫnnhau, thể hiện được khả năng sángtạo trong việc tạo ra các ý tưởng và lời giải mới, có sự hợp tác và chia sẻ vớicác thành viên trong nhóm, có tháiđộ tích cực, dễ cảm thông, tạo sự hứng thúvà hình thành những kỹ năng như kỹ năng phát hiện vấn đề và nắm bắt thôngtin, kỹ năng làm việc tập thể, kỹ năng thương lượng.

- Với nội dung công việc:Có rất nhiều ý tưởng và lời giải giúp cho việc giảm thời gian cũng như có nhiềucách để lựa chọn trong giải quyết vấn đề.

Với ý nghĩa trên củaphương pháp thảo luận nhóm và với yêu cầu thiết thực của nhà trường là cần nângcao chất lượng đội ngũ giảng viên và đổi mới cách dạy, cách học, nâng cao chấtlượng học tập của sinh viên, đến với hội thảo, tôi xin mạnh dạn trao đổi một sốkinh nghiệm qua tham luận “Áp dụng phươngpháp thảo luận nhóm trong giải quyếtbài tập tình huống các môn học pháp luật”. Qua tham luận này, mong các bạnvà các đồng nghiệp đóng góp ý kiến, trao đổi kinh nghiệm làm cơ sở cho việc ápdụng phương pháp thảo luận nhóm vào giải quyết các bài tập tình huống các mônhọc pháp luật ngày càng hoàn chỉnh và hiệu quả hơn, góp phần đổi mới phươngpháp dạy và học của mỗi giảng viên nói riêng của nhà trường nói chung.

Nội dung

1. Giới thiệu chung về phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp được sử dụng nhằmgiúp người học tham gia một cách tích cực chủ động vào quá trình học tập, tạocơ hội cho họ có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến nhằm giải quyết vấn đề đặt ra.

-Ưu điểm:

+ Tạo nên sự hứng thú,thu hút các sinh viên tham gia một cách tích cực;

+ Các cá nhân được tự do dưa ra ý kiến; cho phép các cá nhân đưa ra ý kiếnriêng của mình;

+ Khuyến khích sự tham gia tích cực của cá nhân;

+ Giúp phát triển các phẩm chất lãnh đạo...

- Nhược điểm:

+ Sẽ khó khăn nếu sinhviên không hợp tác tốt với nhau.

+ Tốn nhiều thời gian;

+ Một số học viên giành ưu thế khi thảo luận...

Tổ bộ môn Chính trị - Pháp luật thuộcKhoa Lý luận chính trị hiện nay đang đảm nhiệm giảng dạy ba môn đó là Pháp luậtđại cương với số tiết là 30 tiết, Luật Kinh tế 45 tiết và Pháp luật học 45tiết. Cơ cấu của các môn học có cả giờ học lý thuyết và giờ học thảo luận nêncác giảng viên có thể thuận lợi hơn để tổ chức hoạt động thảo luận nhóm trongcác giờ học thảo luận.

Thực tế Khoa lý luận Chính trị, TrườngĐH Quảng Bình đã có áp dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy và học và bướcđầu đạt được một số kết quả học tập nhất định nhưng vẫn chưa được áp dụngthường xuyên vì một số lý do như thời gian không cho phép, ít có sự hợp tác từphía sinh viên ... tuy vậy, thảo luận nhóm một cách nghiêm túc, đúng đắn, sẽthu được nhiều kết quả tốt.

Môn học pháp luật rất gần gũi với đờisống hàng ngày, giúp người học hiểu biết pháp luật, có kiến thức pháp luật nhằmáp dụng vào thực tế và xử lý những tình huống có thể phát sinh trong cuộc sống.Do đó, để giúp sinh viên có được kiến thức về pháp luật và kỹ năng áp dụng phápluật vào thực tiễn, trong quá trình giảng dạy, các giảng viên cần lồng ghép cáctình huống thực tế vào nội dung bài giảng để sinh viên giải quyết vấn đề. Tùy thuộc vào từng bối cảnh sử dụng, có thể chia tìnhhuống thành những loại sau:

- Loại 1 (tình huốngđơn giản): Loại này bao gồm các tình huống dưới dạng các ví dụ minh họa vớitình tiết đơn giản. Độ dài của các tình huống này thường chỉ khoảng 4-5 câu.Các tình huống đơn giản có thể dùng ngay trong bài thuyết giảng của giảng viênnhằm hai mục đích: (1) minh họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và (2)kích thích sinh viên tư duy tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếptheo.

Ví dụ: Anh (chị)hãy xác định quan hệ dưới đây có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự haykhông? Vì sao? Hãy phân tích các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật trên.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ QuốcKhánh chụp được một bức ảnh chân dung của cô Phan Thị Như Quỳnh (quê ở QuảngBình). Thấy bức ảnh của cô Quỳnh rất đẹp, nên tổng cục du lịch Việt Nam sử dụngtấm ảnh trên làm biểu tượng của du lịch Việt Nam và đặt tên là “nụ cười ViệtNam” với mục đích quảng bá thương hiệu của mình. Bức ảnh trở nên nổi tiếng vàđược biết rộng rãi trong và ngoài nước. Tuy vậy, cô Quỳnh đã phản đối và khôngcho phép sử dụng bức ảnh trên của cô.

- Loại 2 (tình huốngphức tạp): Loại này bao gồm các tình huống phức tạp hơn Loại 1 sử dụng với mụcđích buộc sinh viên chuẩn bị bài trước khi lên lớp giờ thuyết giảng. Các tìnhhuống phức tạp cần đủ dài bao gồm một hoặc một số vấn đề nhằm gợi mở kiến thứcbắt đầu giờ thuyết giảng của một bài học mới. Các tình huống này cần được giaotrước cho sinh viên cùng với tài liệu hướng dẫn để sinh viên đọc. Các tìnhhuống không cần quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho sinh viên nghiên cứu vàghi nhớ những khái niệm khởi đầu của bài học.

Ví dụ:  Do A gâyrối trật tự công cộng nên đã bị Chủ tịch UBND xã B xử phạt với số tiền là200.000đ. A không có tiền nộp phạt nên Chủ tịch UBND xã B buộc A laođộng công ích tại UBND xã 10 ngày với công việc là chăm sóc cây cảnh và vệsinh. Trong thời gian đó, con trâu của nhà ông C vào khuôn viên UBND xã ăn cỏvà đã bị A đánh gãy chân con trâu. Ông C yêu cầu UBND bồi thường nhưng UBND từchối nên ông C khởi kiện vụ án hành chính.

Hỏi:

a) Có những quan hệ pháp luật nào phát sinh và xác định đó làquan hệ pháp luật gì?

b) Việc ông C khởi kiện UBND như trên có đúng không? Xác địnhcác căn cứ làm phát sinh các quan hệ pháp luật trên?

c) Phân tích các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật.

- Loại 3(tình huống đầy đủ): Loại này bao gồm các tình huống phức tạp nhất và đượcchuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này là để sinh viên ápdụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải quyết các vụ việc trongthực tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới.

Ví dụ: Ông A có vợlà bà B, có con là C, D. C có vợ là H, có con là M, N. D có vợ là K, có con làP, Q. Q có vợ là T, có con là X, Y. Tài sản riêng của ông A là 1,2 tỷ VNĐ. Bà Bvà C cùng chết trong một tai nạn vào năm 2003. Ông A chết ngày 15/04/2006.

Hãy chia thừa kế di sản do ôngA để lại. Biết rằng, ông A không để lại di chúc.

2. Các bước tiến hành thảo luậnnhóm

Áp dụng phương phápthảo luận nhóm cho phép giảng viên sử dụng tình huống một cách rất linh hoạt.Tùy thuộc vào nội dung bài học, giảng viên có thể xây dựng các loại tình huốngkhác nhau (tình huống đơn giản, phức tạp hay đầy đủ) và cũng tùy vào yêu cầucủa mỗi loại tình huống các giảng viên có thể tiến hành hoạt động nhóm theo cáccách khác nhau. Nhưng thông thường, để thảo luận nhóm có hiệu quả thì phải thựchiện theo các bước sau:

2.1.  Xác định mục tiêu bài dạy

Để xác định được mục tiêu bài dạy, giảngviên cần xác định rõ hai mục tiêu trước khi tiến hành lên lớp:

Thứ nhất, kiến thức, kỹ năng cơ bản sinh viên cần đạt sau thảo luận nhóm. Đối vớimôn học pháp luật, kiến thức chính là nội dung những quy định của pháp luậttheo yêu cầu nội dung bài học còn kỹ năng chính là khả năng xử lý tình huống,áp dụng những kiến thức được học vào thực tiễn.

Thứ hai, những kỹ năng hợp tác nào cần phải rèn luyện cho sinh viên trong giờhọc.

2.2. Xác định số lượng thành viên trong nhóm và phân nhóm

Sau khi xác định được mụctiêu giờ học, giảng viên cần xác định số thành viên trong nhóm. Nhóm có hiệuquả có từ 2 đến 6 thành viên.

Thực tế tại Trường ĐHQuảng Bình, thông thường mỗi lớp sẽ từ 50 đến 60 sinh viên và được chia thànhbốn tổ. Nếu giảng viên chia nhóm theo tổ thì số lượng thành viên trong mỗi nhómsẽ rất đông, thậm chí các lớp ghép số lượng sinh viên còn đông hơn nữa trongkhi sinh viên trong giờ học thường ngồi theo vị trí nên rất khó hợp tác nhóm.Do vậy, giảng viên nên căn cứ vào tình hình thực tế và đặc điểm của từng lớphọc để chia nhóm hợp lý. Với thực tế tại nhà trường, các giảng viên có thể tổchức hai đến ba bàn học thành một nhóm dễ dàng cho việc thảo luận.

2.3. Phân công nhiệm vụ trong nhóm, xác định vị trí, thờigian thảo luận

* Đối với cá nhân các thành viên: Các thành viên trong nhóm cần cónhiệm vụ, vai trò rõ ràng trước khi thảo luận nhóm.

* Đối với cả nhóm: Khi giao công việc và nội dung thảo luận(các bài tập tình huống) cho các nhóm, giảng viên cần lưu ý các tìnhhuống với các nội dung khác nhau nhưng mức độ khó dễ phải ngang nhau, tránh mấtcân đối giữa các nhóm, nhóm thì nội dung dài khó, nhóm thì lại dễ và ngắn v.v…

Tùy thuộc vào độngắn dài của yêu cầu giải quyết tình huống hay mức độ khó dễ của tình huống vàthời gian mà giảng viên xác định thời gian phù hợp cho các nhóm.

2.4. Giải thích nhiệm vụ

Giảng viên là người quantrọng nhất, quyết định đến hiệu quả, trách nhiệm của sinh viên trong thảo luậnnhóm, nên người giảng viên cần chú ý đến các kỹ năng giao nhiệm vụ:

- Ngôn ngữ phải rõ ràng,ngắn gọn.

- Giải thích mục tiêu củabài học và mục tiêu cần đạt cũng như những kiến thức, kinh nghiệm của học sinhphải vận dụng.

- Giải thích những kháiniệm cần thiết và hướng dẫn trình tự học sinh phải tiến hành, đưa ra các nhiệmvụ nếu cần.

- Ra các câu hỏi nhằmkiểm tra sinh viên đã hiểu nội dung cần thảo luận trước khi tiến hành côngviệc.

2.5. Tổ chức thảo luận nhóm

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các điềukiện cho thảo luận nhóm, giảng viên bắt đầu tổ chức thảo luận nhóm, bao gồm cácnội dung:

Thứ nhất, giảng viên xácđịnh lại xem sinh viên đã nắm rõ bài tập tình huống.

Thứ hai, giảng viên giới thiệu ngắn về mục đích củabài, vấn đề mà bài đề cập tới.

Thứ ba, yêu cầu các nhóm thảo luận.

Thứ tư, yêu cầu nhóm trưởng trình bày cách giải quyết tình huống và nộp kết quảcho giảng viên, các thành viên khác đồng ý với kết quả đó bằng cách kí vào bảnnộp và phải giải trình được vì sao lại có kết quả đó.

Thứ năm, các nhóm có thể đặt câu hỏi cho nhau cùng nhau trao đổi để hoàn thiệnkết quả thảo luận.

 2.6. Đánh giá sau thảoluận nhóm

Sau khi tổ chức thảoluận, giảng viên tiến hành nhận xét về kết quả của sinh viên vào cuối giờ thảoluận. Tuy nhiên để hoàn thành được một kỹ năng, sinh viên phải kiên trì luyệntập để trở thành kỹ xảo.

Cần đề ra những chuẩn mựcvà phần thưởng khuyến khích việc thể hiện các kỹ năng hợp tác trong học tập.

Đề xuất, kiến nghị

Từ kết quả đạt được trongquá trình áp dụng vào thực tiễn dạy học, tôi xin đề xuất với các cấp quản límột số ý kiến nhằm khắc phục những tồn tại góp phần nâng cao chất lượng giảngdạy như sau:

- Đối với Nhà trường: Cầntổ chức hội thảo những sáng kiến về phương pháp giảng dạy cụ thể có chất lượngđể giảng viên học tập, trao đổi và áp dụng trên diện rộng; cần có sự quan tâmhơn nữa đến việc tạo cơ sở vật chất cho việc dạy và học, tạo điều kiện chogiảng viên nghiên cứu, có nhiều sách tham khảo để giảng viên có điều kiện họctập thêm; tăng cường các tài liệu, tạp chí của ngành nhiều hơn nữa; tạo điềukiện cho sinh viên thực tế tại các phiên tòa hoặc thực tế công việc tại các cơquan pháp luật khác.

- Đối với Khoa: Khoa cầnhướng dẫn, đề xuất Nhà trường tạo điều kiện về kinh phí và các điều kiện khácđể các giảng viên trong Khoa xây dựng giáo trình cho sinh viên làm tài liệu họctập và nghiên cứu.

- Đối với giảng viên: Tham gia đầy đủ và nghiêm túc các lớp bồi dưỡng nghiệp vụcho giảng viên, có như vậy mới nắm vững về phương pháp thảo luận nhóm; cần đầutư thời gian chuẩn bị cho tiết học áp dụng phương pháp thảo luận nhóm làm saođạt kết quả cao nhất; các tình huống đưa ra phải phù hợp nội dung, gầngũi với cuộc sống hằng ngày. Khi vận dụng phương phápthảo luận nhóm, giảng viên cần chú ý tạo không khí thoải mái, thân thiện và tincậy nhưng nghiêm túc trong nhóm.

- Đối với sinh viên :cần chủ động, tích cực phối hợp với giảng viên; mạnh dạn, tự tin xây dựng ýkiến; có ý thức chuẩn bị nội dung cũng như các dụng cụ học tập phục vụ cho tiếthọc có áp dụng phương pháp thảo luận nhóm.

Trên đây là một số kinhnghiệm của tôi về phương pháp thảo luận nhóm trong việc giải quyết các tìnhhuống môn học pháp luật. Nhưng theo tôi, điều cơ bản nhất là người giảng viênphải có tâm huyết với nghề nghiệp. Để thảo luận nhóm tốt cũng là đổi mới phươngpháp dạy học thì khâu chuẩn bị trước khi lên lớp của người giảng viên là vôcùng quan trọng. Giảng viên phải chuẩn bị chu đáo các nội dung cần đưa ra chothảo luận nhóm và khi thực hiện cần khéo léo hướng các nhóm các đối tượng vàomục đích yêu cầu của bài học thì sẽ gây được hứng thú học tập cho sinh viên.Không những thế mà thảo luận nhóm còn làm cho sinh viên mạnh dạn hơn nhất làcác đối tượng nhút nhát - làm các em tự tin hơn trong học tập và cũng hiểu nhauhơn trong mọi mặt. Từ đó, chúng ta có thể đưa ra các biện pháp giáo dục phù hợpvà biện pháp để bồi dưỡng các đối tượng khá, giỏi  - yếu, kém.

Kết luận

Phương pháp thảo luậnnhóm là phương pháp dạy học mới, tuy nhiên, để áp dụng thường xuyên phương phápnày tại Trường ĐH Quảng Bình đang còn gặp nhiều khó khăn đòi hỏi mỗi giảng viênchúng ta cần phải có sự nỗ lực hơn nữa trong việc đầu tư công sức vào tìm hiểu,sáng tạo trong việc áp dụng đại trà cho mọi đối tượng sinh viên và cho tất cảcác lớp học. Trong khuôn khổ một tham luận mà thời gian thực hiện không nhiềunên còn nhiều vấn đề tôi không đề cập hết ở đây, mong lãnh đạo Khoa và các đồngnghiệp góp ý kiến để tham luận hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cám ơn!

                                  TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu bồi dưỡng “Đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá”dành cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, HàNội, tháng 5/2009.

2.“Tài liệu tham khảo môn Pháp luật” (dùng cho đào tạo trình độ TCCN), NXBGiáo dục Việt Nam,tháng 8/2011.

3. Töøñieån chính taû mi ni naêm 1996 – NXB Ñaø Naüng.

4.Töø ñieån Töø vaø ngöõ Vieät Nam, bieân soaïnGS. Nguyeãn Laân, NXB TP. Hoà Chí Minh.

5. Ñaïitöø ñieån Tieáng Vieät, chuû bieân Nguyeãn Nhö YÙ NXB Vaên hoaù– Thoângtin naêm 1998.

6. Trang web tìm kieám taøi lieäutrong nöôùc: www.vinaseek.com

7. Trang web tìm kieám chung: www.google.com

8. Maïng thoâng tin tích hôïpTP.HCM: www.Hochiminhcity.gov.vn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁPTHẢO LUẬN NHÓM

TRONG GIẢNG DẠY MÔNĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

                                                                        ThS. Trần Thị Mỹ Ngọc

                                                          Tổ Lịch sử Đảng – Tư tưởng Hồ ChíMinh

Tóm tắt

 Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởngrất lớn đến chất lượng đào tạo. Phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạođiều kiện để giảng viên và người học phát huy hết khả năng của mình trong việctruyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy cho người học.

Có nhiều phương pháp đểáp dụng giảng dạy môn Đường lối C¸ch m¹ng cña§¶ng Céng s¶n ViÖt Nam, sau đây tôi xin trình bày một trong  nh÷ng phương pháp cũng thườngxuyên được áp dụng đối với môn học này. Đó là phương pháp thảo luận nhóm.

Mở đầu

Trong dạy học, việc lùa chän vµ áp dụng phương pháp gi¶ng d¹y phù hîp vµ hiÖu qu¶ đang được nhiều người quan tâm. Việccải tiến phương pháp giảng dạy cần phải được coi trọng hơn nữa. Nhưng cải tiếnphương pháp theo hướng nào? Cho dù giảng viên có chuẩn bị nội dung phongphú và chu đáo đến đâu đi nữa mà sử dụng không đúng phương pháp, chắc chắn sẽlàm cho khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên bị hạn chế và kết quảđạt được sẽ không như ý muốn. 

Tôi luôn trăn trở vì điều đó và luôn tìm hiểu phải làm thếnào để tạo sự yêu thích và hứng thú môn học cho sinh viên. Trong quá trình dạyhọc tôi luôn “quan sát và khám phá sự yêu thích đó” bằng cách thông qua việccho học sinh thảo luận nhóm ngay trong lớp học. Nhưng việc thảoluận nhóm trong lớp sẽ được tổ chức như thế nào? Mục tiêu là gì? Cách thực hiệnra sao? … §©y là vấnđề mang nhiều thử thách mà người giảng viên cần phải nghiên cứu giảiquyết. 

 Nội dung

1. Ưu điểm của phương pháp thảo luận nhóm

- Phương pháp này kích thích lòng ham mê học tập của sinhviên, tránh lối học thụ động.

- Giúp sinh viên phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề theonhóm, có tinh thần đoàn kết cao.

- Sinh viên hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập,tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân bằng phương pháp tự học vàkhám phá thêm những kiến thức liên quan từ thực tiễn.

- Khi nhóm thảo luận hoạt động dưới sự giám sát của giảngviên, giúp hạn chế rất nhiều những thói quen xấu như nói chuyện riêng, thiếutập trung, đùa giỡn …

- Đa số sinh viên đều dùng phương pháp suy luận và tư duy đểgiải quyết vấn đề, nên những tri thức khoa học mà các em thu thập được sẽ khắcsâu và dễ nhớ.

2. Thực trạng vấn đề

 Trong chương trình môn Đường lối C¸ch m¹ng cña§¶ng Céng s¶n ViÖt Namcó những bài liên hệ từthực tế rất nhiều. Nếu chỉ dạy suôn theo Giáo trình sinh viên cảm thấy rất nhàmchán, đòi hỏi giảng viên phải linh hoạt vận dụng phương pháp dạy học sao cholàm sáng tỏ vấn đề, khám phá những tri thức mới có liên quan, tạo sự tích cựctrong sinh viên, tiết học trở nên hứng thú hơn.Tuy nhiên hiện nay, không nêncho rằng bất cứ bài nào cũng cần phải có thảo luận nhóm để chứng tỏ là có quantâm đến đổi mới phương pháp giảng dạy. Tuy nhiªn, tïy néi dung bµi häc ®Ógi¶ng viªn sö dông ph­¬ng ph¸p nµy phï hîp vµ cã hiÖu qu¶. Trên thực tế, chỉ những bài mà cóphần có tình huống cần thảo luận thì mới nên chia nhóm thảo luận. Còn không thìkhông nhất thiết phải có thảo luận nhóm.

3. Các biện pháp đã tiến hành để thực hiện

3.1. Nội dung   

- Khi lùa chän néi dung th¶o luËn nhãm, gi¶ng viªn ph¶i®Æt c©u hái.Vấn đề ®­a ra liệu sinh viên có thể tự khám pháđược không?  Có vừa sức với các em hay không? Vấn đề có sức lôi cuốnkhông?

Giảng viên phải biết từng đối tượng lớp học cũng như khả năngvà trình độ của sinh viên.

- Trong nội dung của bài giảng có chứa đựng nhiều vấn đề họctập, trong đó vấn đề trọng tâm là cơ sở để nhận thức các vấn đề khác. Việc lựachọn vấn đề là yếu tố quan trọng nhất.

- Lựa chọn vấn đề học tập cần chú ý một số điều kiện sau đây:

+ Vấn đề trọng tâm, chứa đựng thông tin mới.

+ Vấn đề thường đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ.

+ Vấn đề học tập phải vừa sức của sinh viên và tương ứng vớithời gian làm việc.

Trong thực tế, vấn đề đưa ra thường ngắn gọn và thời giansinh viên làm việc khoảng từ 5 phút đến 10 phút. Chúng ta sẽ áp dụng ở nhữngtiết giảng có nội dung ngắn gọn và sử dụng qũy thời gian kiểm tra và củng cốbài.

 Lưu ý:Đề tài thảo luận nên là những vấn đề mở (chưa có giải đáp trong Giáo trình )thì mới gây được hứng thú cho sinh viên. Không nên chọn những đề tài mà Giáotrình đã có lời giải.

 Câu hỏi thảo luận phải là câu hỏi:

   + Mở.

  + Dễ hiểu: khi đọc lên chỉ hiểu theo một nghĩa. Câuhỏi chỉ bao hàm từ 1 đến 2 ý mà thôi.

+ Phù hợp với sự hiểu biết và đặc điểm của sinh viên.

+ Đúng văn phạm.

Ví dụ: Anh (chị ) hãy so sánh sự giống nhau và khác nhau giữaCương lĩnh Chính trị đầu tiên và Luận cương Chính trị tháng 10/1930.

3.2.  Chuẩn bị của giảng viên 

*) Trước khilên lớp, giảng viên cần chuẩn bị:

- Mục tiêu của hoạt động nhóm trong bài này là gì?

- Những vấn đÒ thảo luận trong nhóm là những vấn đề gì?

- Nên chia lớp ra làm mấy nhóm?

- Hoạt động này cần bao nhiêu thời gian?

- Dự kiến tình huống xảy ra và cách giải quyết

- Sinh viên phải chuẩn bị những gì?

- Soạn đề cương cho phù hợp với việc thảo luận nhóm.

 *) Chuẩn bịcủa sinh viên

- Chuẩn bị những tµi liÖu cần thiết mà giảng viên đã dặn dò.

-  Thuộc bài cũ và chuẩn bị bài mới (xem GT)

-  Làm những bài tập của giờ  học lần truớc …

-  Chuẩn bị bài thuyết trình về vấn đề mà giảng viên đãdặn trước (đối với trưởng nhóm) sinh viên làm việc này chỉ khi nội dung thảoluận xoay quanh vấn đề lớn cần nhiều thời gian.

Thảo luận nhóm có thể thực hiện dưới hai hình thức:

1. Thảo luận nhóm lớn (7-10 sinh viên)

2. Thảo luận nhóm nhỏ (5-7 sinh viên)

3.3. Tiến hành thảo luận: gồm 3 bước cơ bản

Bước 1, chuẩn bị thảo luận

 -Yêu cầu sinh viên nghiên cứu trước bài học  vàchuẩn bị nội dung phát biểu.

 - Hướng dẫn cách thực hiện, phân bổ thời gian hợp.

- Giải đáp thắc mắc của sinh viên trước khi chính thức đi vàohoạt động,  đồng thời ghi lại chủ đề và chỉ dẫn lên bảng hoặc máy chiếu…

 Bước 2, tiến hành thảo luận

- Giám sát của giảng viên: Khi sinh viên tiến hành hoạt động,giảng viên chuyển từ vị trí người hướng dẫn sang vị trí người giám sát. Nhiệmvụ của giảng viên lúc này là nhận biết tiến trình hoạt động của các nhóm từ đócó thể có những can thiệp kịp thời để mang lại hiệu quả. Muốn vậy khi giám sáthoạt động nhóm, giảng viên cần: 

+ Chú ý đến hoạt động mà giảng viên yêu cầu lớp thực hiện.Không nên tranh thủ làm việc riêng khi sinh viên đang thảo luận

- Di chuyển, quan sát toàn bộ lớp để giám sát được mọi hoạtđộng. 

+ Lắng nghe quá trình trao đổi của sinh viên trong nhóm. Từđó giảng viên có thể có những phát hiện thú vị và khả năng đặc biệt của từngem, hướng thảo luận của từng nhóm để điều chỉnh kịp thời.

+  Quan sát để xem có sinh viên nào “đứng bên lề” hoạtđộng không? Nếu có, giảng viên tìm cách đưa các em vào không khí chung củanhóm.  

- Nhận biết bầu không khí xem các nhóm hoạt động “thật” hay“giả”.  

- Có khi vấn đề giảng viên đặt ra là nguyên nhân gây nên sựthay đổi không khí hoạt động của nhóm. Nếu vấn đề quá khó, sinh viên không đủkhả năng giải quyết, ngược lại vấn đề quá dễ, khiến sinh viên không có gì phảilàm. Cả hai trường hợp này đều có thể làm giảm đi độ “nóng” của bầu không khítrong lớp. Lúc này giảng viên cần có sự điều chỉnh kịp thời.

+  Khen ngợi và khuyến khích, gợi ý nếu thật sự cầnthiết.

+  Nhắc thời gian để các nhóm hoàn thành phần hoạt độngcủa mình đúng thời gian quy định.

 - Trong suốt buổi thảo luận nhóm, GV cần đi vòng quanhcác nhóm và lắng nghe ý kiến sinh viên. Thỉnh thoảng cũng rất hữu Ých nếu GV xen lời bình luận vào giữacuộc thảo luận của một nhóm.

Bước 3,  kết thúc hoạt động nhóm

Đại diện từng nhóm lên trình bày trước lớp. Có thể trình bàydưới hình thức nói, viết hoặc kết hợp cả hai. Sau khi đại diện các nhóm trìnhbày, giảng viên cho cả lớp góp ý.

Các thành viên trong lớp phát biểu bổ sung hoặc tranh luậnđúng sai và trao đổi ý kiến chung có liên quan tới những gì vừa trình bày.

+ Giảng viên tóm tắt lại tất cả các điểm chính và làm rõ bấtkì điểm nào còn khác nhau về ý kiến.

+ Giảng viên chốt lại các ý kiến đưa ra định hướng đúng nhữngvấn đề  sinh viên cần nhớ sau khi thảoluận.

GV nhận xét, hệ thống hóa những kiến thức, kỹ năng theo yêucầu đã đặt ra

+ Cho sinh viên ghi chép vào vở.   

 Những vấn đề mà việc thảo luận nhóm còn gặp khó khăn

- Về thời gian: một tiết học 50 phút giảng viên phải truyềntải nhiều nội dung của bài học, nếu dành nhiều thời gian cho việc thảo luận,giảng viên không dạy hết bài.

- Về việc chia nhóm: số sinh viên mỗi lớp hiện nay từ 60em  trở lên, nếu chia lớp thành 3 nhóm thì sẽ quá đông còn nếu chia làmnhiều nhóm thì không đủ không gian để thảo luận.

- Về tâm lí: Một số sinh viên sẽ ỷ lại vào nhóm trưởng, nếugiảng viên không bao quát lớp tốt sẽ có nhiều em thụ động, không tích cực.

Kếtluận

Mặc dù phương pháp này vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi thựchiện nhưng nó cũng tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc dạy và học.

Trường Đại học Quảng Bình trong nhiều năm qua ®· tổ chức những buổi báo cáo chuyênđề, thao giảng, hội giảng…nghiên cứu về phương pháp thảo luận nhóm trong lớphọc rất tích cực. Đây cũng là đề tài đông đảo giảng viên tích cực tham gia.

Trong thời gian qua tôi ®· dự giờ một số đồng nghiệp, cho thấy ưu điểm của việc thảoluận nhóm, đa số sinh viên hoạt động rất tích cực khi giải quyết vấn đề. Giảngviên cũng có sự đầu tư về câu hỏi, phiếu thảo luận, điều hành tốt…

Hy vọng rằng trong những năm học tới, phương pháp này vẫnđược Ban Giám hiệu quan tâm chỉ đạo, tổ chức để cho giảng viên có điều kiệntrao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy, nâng cao tay nghềphục vụ giảng dạy tốt hơn.

Đặc biệt đối với môn Đường lối C¸ch m¹ng cña §¶ng Céng s¶nViÖt Nam, hy vọng hìnhthức đổi mới phương pháp giảng dạy “thảo luận nhóm” sẽ ngày càng được áp dụngphổ biến và càng nhiều người hưởng ứng hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Giáo trình Giáo dục học. Dành cho sinh viên sư phạm, tập 1, Nxb Đạihọc sư phạm.

            2.Giáo trình Giáo dục học. Dành cho sinhviên sư phạm, tập 2, Nxb Đại học sư phạm.

            3.Một số phương pháp dạy, học tích cực cơbản, Học viện hành chính – Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2011.

 

Các Tin đã đăng
ĐỊA CHỈ
312 Lý Thường Kiệt - Phường Bắc Lý - Thành phố Đồng Hới - Quảng Bình
(0232) 3...
Hỗ trợ kỹ thuật : (0232) 3...
Khoa Luật- Trường Đại Học Quảng Bình
© Phát triển bởi Bộ môn CNTT Trường Đại học Quảng Bình